Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 07 tháng 01 năm 2015

Bán Nước Miễn Thuế, Bán Phở Chớ Mong






“Bán 10 tô phở mỗi ngày phải nộp thuế!” Ý vị mỉa mai của tác giả hoàn toàn khuynh loát nỗ lực truyền đạt pháp lệnh chúc mừng năm mới của nhà cầm quyền Hà Nội. Cái tít được chia đi sẻ lại khá dồn dập trên Facebook này vì thế đã lập tức thu hút sự chú ý của tôi. Đây vốn là tiêu đề của một bài viết đăng trên báo Thanh Niên Online, bởi thế tôi vội vã lướt qua bên đó để tìm hiểu hư thực. Khi đọc đến đoạn “doanh thu trên 280.000 đồng/ngày phải nộp thuế” tôi cảm thấy choáng váng.

Mức giới hạn 280.000 đồng/ngày quả là một con số nhỏ nhoi đến độ thảm thương—chỉ tương đương với khoảng 13 Mỹ kim/ngày. Nhưng hai chữ “doanh thu” mới là cái khiến tôi chới với. Ngỡ là báo Thanh Niên nhầm lẫn nên tôi quyết định phải kiểm chứng nguồn tin. Loay hoay một hồi mới tìm được văn bản gốc mang tên “Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Các Luật Về Thuế” do quốc hội thông qua vào ngày 26 tháng 11, 2014.

Theo Điều 2 của đạo luật mới này thì bắt đầu từ ngày 1 tháng 1, 2015, “cá nhân kinh doanh nộp thuế thu nhập cá nhân theo tỷ lệ trên doanh thu đối với từng lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh.” Như vậy quả thật là “doanh thu” chứ không phải là “doanh lợi”—báo Thanh Niên hoàn toàn chính xác. Hơn thế nữa, “doanh thu” còn được điều luật này định nghĩa rõ ràng là “toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.” Theo thuật ngữ kinh tế học thì đây chính là định nghĩa của “tổng doanh thu” chứ không phải là “doanh thu thuần.”

Ở hầu hết các nước tư bản tự do, thuế kinh doanh chỉ dựa vào “doanh lợi” chứ không dựa vào “doanh thu”—hay nói nôm na là “lời nhiều thuế nhiều, lời ít thuế ít, không lời không thuế.” Còn nếu lỗ thì số tiền lỗ năm nay có thể chuyển sang các năm khác (trong quá khứ cũng như tương lai) để giảm bớt mức doanh lợi và trả ít thuế hơn cho các năm đó. Mục đích của chế độ thuế kinh doanh tương đối khoan hồng này là tạo điều kiện để doanh nghiệp có thể kiên trì đi đến thành công. Đây mới là thực chất của chính sách “dân giàu nước mạnh.” Doanh nghiệp thành công không phải chỉ đơn thuần là vấn đề phú hữu của người làm chủ mà còn là phương tiện tạo công ăn việc làm cho người khác và thúc đẩy nền kinh tế quốc gia phát triển. Hệ quả tất yếu là cuối cùng tất cả sẽ trở thành các yếu tố làm tăng quỹ thuế cho đất nước.

Ở Việt Nam thì ngược lại, bất kể là có lời hay không, nếu mỗi ngày chị bán được 5 tá hột vịt lộn hay 10 tô phở là phải nộp thuế, chẳng cần nói lôi thôi gì cả. Chế độ “thuế thầy bỏ túi, sống chết mặc bây” này là biểu hiện của một chính sách vơ vét hà khắc đối với tầng lớp quần chúng khốn khổ nhất của xã hội. Thay vì tạo điều kiện để họ có thể tự lực cánh sinh, đảng và nhà nước ta đang dồn họ vào bước đường cùng. Theo điều tra hiện trường của một số báo chí trong nước, nhiều người buôn bán vỉa hè cho hay đối mặt với loại thuế mới ác ôn này họ chỉ còn nước... dẹp tiệm.

Một công dân mạng mỉa mai phán rằng: “Mẹ kiếp! Bác cháu nó bán nước có công hàm, có sách giáo khoa hẳn hòi nhưng chẳng ma nào chịu nộp thuế. Thế mà đối với những kẻ suốt ngày đầu tắt mặt tối ở đầu đường xó chợ thì chúng lại đánh cho tơi bời từng tô phở, từng bát cháo, từng hột vịt lộn, từng đế giày.”

Nhưng đâu phải chỉ được mỗi cái miễn thuế, bán nước là một cái nghề không cần vốn nhưng lời bạo. Hơn thế nữa, bán càng nhiều càng có lắm cơ hội được nhà nước ban bố cho đủ thứ giải thưởng cao quý như Huân Chương Sao Vàng, Huân Chương Hồ Chí Minh. Chết đi lại được xây lăng, lập đền, đặt tên đường, tên thành phố. Di sản để lại thì quá kếch sù phải tính bằng đơn vị tỉ Mỹ kim và cất kỹ trong các ngân hàng Thụy Sĩ để bảo đảm an toàn. Con cháu cứ thế mà mặc sức ra ngoại quốc du học, ăn chơi, tậu biệt thự. Đến khi về nước thì ghế bí thư này hay ghế bí thư nọ đã được sắp sẵn đợi chờ, nhưng ngồi chưa nóng đít lại được bầu vào BCHTƯ rồi Bộ Chính Trị—để tiếp tục củng cố và phát triển sự nghiệp cách mạng vĩ đại của bác và đảng: bán nước, buôn dân.

Đấy, ai bảo ở Việt Nam không có thiên đường xã hội chủ nghĩa? Nhưng cần nhớ rằng nó là loại thiên đường chỉ dành riêng cho giai cấp quý tộc đỏ. Còn giới cùng đinh đen thì phải cứ tiếp tục nằm mơ thôi.

Riêng cô Hai cháo lòng, chị Ba hột vịt lộn, chú Tư đánh giày, và anh Năm phở dạo... thì hãy rán còng lưng ra mà đóng thuế. Nhớ nhé, sứ mạng cao cả lắm đấy, có tiền thuế của quý vị, thiên đường mới thêm hoành tráng.

Nam Hải Trường Sơn
Tháng 1, 2015
[ Đọc Tiếp ]

Ngày 15 tháng 12 năm 2014

Tiếng Anh Ngó Thanh Giảng Tục




TIẾNG ANH NGÓ THANH GIẢNG TỤC


Mới đọc phớt qua đầu đề có lẽ nhiều người đã nghĩ ngay đến những chữ có bốn mẫu tự rất quen thuộc ấy, chẳng hạn như: cock, dick, cunt, twat, arse, prat, bonk, jerk, quim, hoặc jizz. Không, không, xin chớ hiểu lầm. Tuy loại ngôn từ đó cũng có thể cấu thành một đề tài hấp dẫn, nhưng nó không phải là đối tượng của bài viết này. Tôi muốn nói đến một nhóm từ ngữ mà hầu hết những người sử dụng tiếng Anh—bao gồm cả dân bản xứ—có lẽ chưa bao giờ hoài nghi tính thanh nhã và trang trọng của chúng.

Nếu tôi bảo rằng tôi ưa lang thang bên bờ sông “Không Vú” để ngắm “hoa dịch hoàn” và thưởng thức “kem âm đạo” thì chắc chắn sẽ có người lên tiếng mắng mỏ—nhẹ lắm là đồ “tinh nghịch” còn nặng hơn chí ít cũng phải là phường “rối loạn tâm thần.” Tuy nhiên, nếu xài cho đúng chữ thì người phê phán phải nên nói rằng tôi là kẻ có ý tưởng “tinh ... dịch” hoặc mắc chứng “rối loạn ... tử cung.”

Không, không phải giỡn chơi đâu nha, nói thật đấy. Nếu ai vẫn còn nghi hoặc thì xin mời vào đào xới bí mật đời tư của 10 từ ngữ mà tôi đã chọn lựa để chứng minh rằng tiếng Anh không chỉ là một thứ ngôn ngữ ưa ăn nằm lang chạ mà lắm lúc còn rất gian dối—bề ngoài trông có vẻ thanh lịch, nhưng bên trong thực sự rất thô lậu.

TRÁI BÌU BƠ

Đã từng một thời có tên là lê cá sấu (alligator pear) vì da nó sần sù như da cá sấu, nhưng cái tên mang dấu ấn của loài ác ngư này đã phai mờ theo năm tháng—hiện tại ngoại trừ một vài địa phương tại miền nam nước Mỹ, danh xưng này hầu như đã hoàn toàn tuyệt tích ở những nơi khác. Thay vào đó, nó được mọi người biết đến qua tên gọi avocado.

Trong những năm tháng gần đây, giới nghiên cứu khoa học đã đưa ra nhiều chứng cớ cho hay avocado là một loại trái cây rất bổ ích cho sức khỏe vì nó giàu potassium, có nhiều chất chống dưỡng hóa, chất xơ, cũng như các loại mỡ tốt. Ngoài ra nó còn có khả năng tiêu trừ cholesterol xấu, phòng chống một số ung thư, và giảm đau đớn cho người mắc bệnh viêm khớp.

Nhưng đối với thần dân của vương quốc Aztec (ngự trị trong thung lũng Mễ Tây Cơ từ thế kỷ 13 cho đến thế kỷ 16) thì nó còn có tác dụng kích thích tính dục. Niềm tin của họ không có cơ sở khoa học mà chỉ dựa trên quan niệm “lấy hình bổ hình” rất phổ biến vào hồi đó. Họ thấy nó giống bìu dái nên đinh ninh rằng nó có khả năng cường dương và đã đặt tên cho nó theo cái hình dạng “của quý” mà họ đã tưởng tượng được đó. Bởi thế, trong ngôn ngữ Nahualt của người Aztec, trái bơ cũng như bìu dái hay hòn dái đều được gọi là ahucalt.

Sau khi thôn tính lãnh thổ Aztec, vì cảm thấy chữ ahucalt khó đọc nên người Tây Ban Nha đã chuyển âm sang tiếng mẹ đẻ là aguacate. Ít lâu sau có một số người đã dùng chữ avocado (vốn có nghĩa là luật sư trong tiếng Tây Ban Nha vào thời điểm đó) để thay thế cho aguacate—có lẽ vì thấy luật sư và loại trái cây này có những đặc tính tương tự như sần sù, táo bạo và đậm đà “tính đàn ông” nên họ đã đồng hóa danh xưng. Tuy nhiên, trước khi được đưa vào kho từ vựng tiếng Anh dưới dạng hiện thời là avocado, nó đã từng được Anh hóa qua các dạng thức khác như avigato, avogato, và avocato.

Người Việt mình gọi avocado là trái bơ có lẽ vì thịt nó có màu sắc và chất cảm tờ tợ loại bơ đặc. Khác với người Aztec, người Việt mình không dựa vào diện mạo bên ngoài để đặt tên mà đã mổ xẻ và đi sâu vào lòng đối tượng. Cả hai lối nói đều rất thú vị nhưng không hoàn hảo vì một bên chỉ chú trọng hình thức và bên kia ngược lại chỉ chú trọng nội dung. Theo tôi, kết hợp cả hình thức lẫn nội dung mới là biện pháp tốt nhất. Bởi thế, trong tiếng Việt, thay vì trái bìu hay trái bơ, tôi đề nghị chúng ta nên chiết trung và gọi nó bằng danh xưng có tính chính xác cao hơn là trái bìu bơ.

Di sản mà người Aztec để lại cho tiếng Anh không nhiều, nhưng phần lớn đều nồng nàn hương vị ẩm thực, chẳng hạn như: “cacao,” “chocolate,” “chili,” “tomato,” “chipotle” (ớt hong khói), “guacamole” (một loại xốt làm từ trái bìu bơ), và “tamale” (một loại bánh hấp có nhân).

HOA TINH HOÀN

Lan là một loài hoa vương giả—kiêu sa và lộng lẫy trong muôn vàn sắc thái. Ở vùng Đông Á, nó còn được liệt vào hạng “tứ quân tử”—mai, lan, cúc, trúc—để tượng trưng cho sự thanh cao và tinh khiết. Tuy nhiên, ở phương Tây, nếu dựa vào cách xưng hô mà đánh giá thì loài hoa này tuyệt nhiên chẳng có phong cách tao nhã và địa vị tôn quý như thế. Trong tiếng Anh, lúc đầu lan được gọi là orchis—một chữ mượn từ tiếng La-tinh và được giữ nguyên dạng. Orchis bắt nguồn từ chữ orkhis của tiếng Hy Lạp và có nghĩa là hòn dái của động vật giống đực. Đến giữa thế kỷ 19, nó được Anh hóa để chuyển sang dạng hiện tại là orchid.

Tại sao một loài hoa mỹ miều như lan lại có một cái tên khiếm nhã đến thế? Lý do rất đơn giản: chỉ vì thấy bộ rễ của nó có hình dạng giống hai trái tinh hoàn nên các nhà thực vật học người Anh đã mượn ngay cái chữ La-tinh ấy để đặt tên cho nó. Tôi đã quan sát bộ rễ của nhiều loại lan để kiểm chứng, nhưng tiếc rằng cho đến bây giờ vẫn chưa tìm thấy nét tương tự—danh chẳng xứng với thực tí nào. Có lẽ các nhà thực vật học ấy có sức tưởng tượng phong phú hơn tôi, nhưng biết đâu chừng họ chỉ bất hạnh bị cái túi bảo bối tòng teng suốt ngày ám ảnh.

Nói đến chuyện tiến hóa của orchisorchid, tiện đây tôi xin nhắc nhở các đấng nam nhi một điều rất quan trọng. Nếu người yêu cầm kéo nhíp nhíp và nũng nĩu đòi thực tập nghệ thuật orchiectomy thì xin chớ hiểu lầm rằng nàng muốn giúp bạn tỉa rễ lan nhé. Trong trường hợp này, orchi chưa được lan hóa mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa “của quý” ban đầu của nó và hậu tố -ectomy có nghĩa là cắt bỏ. Bởi thế cũng giống như castration—một danh từ tương đối thông dụng hơn—orchiectomy chỉ có nghĩa là... thiến. Nếu không muốn trở thành thái giám, tôi khuyên bạn nhất quyết phải từ chối yêu cầu của nàng.

DÒNG SÔNG KHÔNG VÚ

Dòng sông xếp hạng thứ hai về chiều dài nhưng có lưu lượng và lưu vực lớn nhất thế giới được người Tây Ban Nha mệnh danh là Amazon vì họ tin rằng giống dân Amazon đã từng sinh sống ở hai bên bờ sông này. Theo huyền thoại Hy Lạp, người Amazon có những binh đoàn phụ nữ rất dũng cảm và thiện chiến. Họ có tập tục cắt hay đốt vú phải để tạo thuận tiện cho việc lôi kéo cung tiễn (và giữ lại vú trái để cho con bú). Cái tên dành riêng cho chủng tộc ấy và dòng sông ấy bắt nguồn từ đó. Trong tiếng Hy Lạp, tiền tố a- có nghĩa là không hay không có và hậu tố mazos có nghĩa là vú. Bởi thế, nếu truy cứu căn nguyên thì quả thật Amazon có thể gọi là Dòng Sông Không... Vú. Ngoài ra, dưới dạng danh từ chung amazon còn có nghĩa là người đàn bà vạm vỡ như lực sĩ.

VUI THÚ VÌ VÚ BỒNG BỀNH

Exuberant là một hình dung từ có năm nghĩa chính như sau: (1) sum sê, um tùm, sầm uất; (2) dồi dào, phong phú, đầy rẫy, chứa chan; (3) hồ hởi, phấn khởi, vui thú; (4) hoa mỹ; (5) cùng cực, tột độ. Dùng exuberant theo nghĩa (1) và (2) để miêu tả đặc tính của sông Amazon hay rừng Amazon thì quả thật rất xứng đôi vừa lứa. Nhưng về mặt từ nguyên, amazonexuberant là hai khái niệm hoàn toàn tương phản. Như đã nói ở trên amazon biểu thị trạng thái “không có vú” trong khi exuberant không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa “có vú” mà vú còn phải to tròn, căng phồng lên—bởi vì trong tiếng La-tinh, tiền tố ex- có nghĩa là vươn lên, trồi ra và uber có nghĩa là vú.

Vú đẫy đà tượng trưng cho sức sống tràn trề, mắn con, tốt giống, phì nhiêu, phong phú, đẹp đẽ, quyến rũ. Chính vì thế trong danh sách những thứ khiến cho giới phụ nữ hân hoan tột mực nó phải được xếp vào hàng đầu. Điều tra mức thu nhập của các bác sĩ giải phẩu nâng ngực là lập tức tìm được chứng cớ. Tuy xét về mặt từ nguyên exuberant hoàn toàn nằm trong phạm trù "nhũ tính" nhưng nó không phải là chữ dành riêng cho phái nữ. Nam giới cũng có thể xài exuberant—có lẽ vì khi thấy cặp vú bồng bềnh của phụ nữ, đàn ông cũng hồ hởi phấn khởi không kém (và nếu bạn muốn hiểu rõ hơn về vấn đề này hãy xem bài Bóp Vú, Bóp Trán).

NÕN NƯỜNG HEO CÁI

Xuất thân từ vùng Cao Lĩnh (thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc) dưới dạng đất sét nung, nhưng sang đến Anh Quốc thì đồ sứ—porcelain—đã hoàn toàn biến thái và hiện tại chỉ để lại những ấn tích có liên quan đến bộ phận sinh dục của heo cái. Porcelain chào đời tại La Mã giữa thời Trung Cổ và được đặt tên là porcellana. Thực ra, lúc đầu người Ý chỉ dùng porcellana để gọi chung các loài trai, sò, ốc, hến. Sau khi tiếp xúc với các sản phẩm đồ sứ của Tàu, vì thấy chúng bên ngoài có hoa vân còn bên trong thì bóng nhoáng và trắng trẻo như vỏ của các loài hải sản này nên họ lại dùng danh từ ấy để đặt tên cho chúng. Khi xuất khẩu sang Ba Lê, nó bị người Pháp chuyển hóa thành porcelaine. Cuối cùng, để chứng tỏ mình không muốn theo “đuôi” Pháp nên người Luân Đôn đã bỏ chữ e chót đi để Anh hóa nó thành porcelain.

Về mặt căn nguyên, porcellana là từ phái sinh của porcella và nếu tiếp tục tiến xa hơn về miền thượng du, chúng ta sẽ phát hiện porcella bắt nguồn từ chữ porcellus của tiếng La-tinh và có nghĩa là heo cái còn nõn hay còn tơ. Nhưng tại sao lại có sự móc nối giữa trai, sò, ốc, hến và heo cái? Phần lớn các nhà từ nguyên học đều cho rằng mối quan hệ này phát sinh từ sự liên tưởng về hình dạng của những loài hải sản này và âm hộ lộ thiên của heo cái.

Trong khi các nhà thực vật học người Anh nhìn rễ hoa lan chỉ thấy hai hòn dái, các nhà bối loại học người Ý ngó vỏ ốc là nghĩ ngay đến cái lồn(g) heo cái. Thế mới hay không phải lúc nào các khoa học gia cũng nghiêm túc như bạn tưởng.

Trong tiếng La-tinh, heo nái—tức là heo cái đã hoàn toàn trưởng thành—được gọi là porca và heo đực (hay heo nói chung) là porcus. Một số chữ bắt nguồn từ cái gốc heo ấy bao gồm: pork (thịt heo); porcine (có tính heo, như heo, hoặc hiểu theo nghĩa bóng là xồ xề, tham lam); porky (mập như heo hoặc hiểu theo nghĩa bóng là huênh hoang, tự phụ); porcupine (con nhím, hay đúng hơn là heo có gai: porcus + spina); porpoise (cá heo: porcus + piscis).

KEM ÂM ĐẠO

Vani là một loại gia vị hầu như được sử dụng rộng rãi ở khắp nơi trên thế giới. Theo một cuộc thăm dò gần đây, kem vani là loại kem được người Mỹ ưa chuộng hàng đầu, bỏ xa kem sô-cô-la. Nhưng kết quả của cuộc thăm dò này chắc chắn sẽ hoàn toàn trái ngược nếu vanilla ice cream được thay thế bằng vagina ice cream—một danh xưng mà các nhà từ nguyên học cho là tương đồng.

Khi người Tây Ban Nha đến chinh phục vương quốc Aztec, ngoài trái bìu bơ ra họ còn phát hiện cây vani ở miền nam Mễ Tây Cơ và đã đặt tên cho nó là vainilla. Chữ vainilla do hai bộ phận ngữ tố vaina-illa cấu thành. Tiền tố vaina bắt nguồn tữ chữ vagina trong tiếng La-tinh và có nghĩa là (1) âm đạo của phụ nữ (cũng như các động vật có vú khác) và (2) bao kiếm, bao lưỡi lê, hay bao dao găm. Hậu tố -illa có nghĩa là còn nhỏ, chưa trưởng thành. Nếu người Aztec nhìn trái bơ thấy hai hòn dái của đàn ông, các chiến sĩ theo chân Hernando Cortes đến chinh phục họ đã hình dung vỏ đậu vani qua cái bao kiếm nhỏ nhỏ thon thon của đàn bà. Nếu nói tinh dầu vani thực sự là chất chiết từ âm đạo, không biết người Mỹ có còn cảm thấy khoái khẩu với món kem được pha chế bằng loại gia vị này không nhỉ?

Có lẽ tôi sẽ bị cho là xao lãng nếu không nói thêm một đôi điều về chữ vulva trong khi bàn luận các thuật ngữ tình dục bắt đầu bằng mẫu tự V. Trong tiếng Anh cũng như tiếng La-tin, vulva đều có chung một cách viết và đồng thời cũng là thành viên của nhóm chữ có âm “v” được lập lại tối thiểu hai lần liên tiếp. Trong tiếng La-tinh, vulva có nghĩa là vật bao bọc, vật che phủ, hay tử cung. Khi được Anh hóa, vulva chỉ có nghĩa là âm hộ, tức là bộ phận lộ thiên của âm đạo. Theo cuốn American Heritage Dictionary thì vulva được định nghĩa là “the vestibule of the vagina” và nếu được dịch sát sang tiếng Việt thì vulva có thể gọi là “hành lang (hay tiền sảnh) của âm đạo”—bởi thế dùng chữ âm hộ trong tiếng Hán Việt để chuyển ngữ thì quả thật rất là khít khao.

Nhân tiện tôi liệt kê thêm một số chữ có vần “v” được lập lại chí ít hai lần (mà không phải từ điển nào cũng có ghi): vulviform (có hình dạng giống âm hộ); vulvitis (viêm âm hộ); vulvovaginitis (viêm âm đạo và âm hộ); vulvectomy (giải phẩu cắt âm hộ); vulvacentrism (lý thuyết âm hộ trung tâm); vulvalogocentrism (lý thuyết ngôn-âm-hộ trung tâm). Trong khi chiêm nghiệm những từ ngữ này, nếu bạn cảm thấy hứng khởi, tràn trề sức sống, hoặc có sức hấp dẫn người khác phái, thì hãy vươn tay lên và la lớn: Va-va-voom!

HỮU XẠ MÀ CHẲNG THƠM THO

Người Tàu cũng như người Việt thường ưa nói: “Hữu xạ tự nhiên hương.” Xạ là tên của một loài nai đặc biệt vì dưới bụng của những con đực có một túi cứng tỏa hương thơm ngát gọi là xạ hương. Nghĩa đen của câu thành ngữ này là ở đâu có xạ đực, ở đó tự nhiên có mùi thơm (không cần gió đưa đẩy mới ngửi được). Hiểu theo nghĩa ẩn dụ, nó ám chỉ kẻ có bản lĩnh tự nhiên sẽ được người khác biết tiếng (không cần rêu rao, quảng cáo). Cho đến cuối thế kỷ 19, xạ hương thiên nhiên là loại nguyên liệu cơ bản được dùng rộng rãi trong nhiều loại nước hoa. Từ đó cho đến ngày nay, vì lý do kinh tế cũng như đạo đức, thay vì giết nai để lấy xạ hương, các công ty nước hoa chỉ dùng những hóa chất tổng hợp có mùi vị tương tự.

Trong tiếng Anh xạ hương được gọi là musk, tuy nhiên, nếu truy cứu gốc gác từ nguyên, danh xưng này cũng chẳng thơm tho tí nào. Cha đẻ của musk là chữ muska trong tiếng Phạn và có nghĩa là hòn dái vì cái bọc xạ hương trông giống như bìu dái. Nếu nghĩ đến nguồn gốc bìu dái của musk, không biết quý bà quý cô khi xài nước hoa có cảm thấy hưng phấn thêm phần nào không nhỉ?

Nếu đào sâu hơn nữa, chúng ta sẽ phát hiện mẫu thân của muska lại chính là mus tức là chuột (chứ không phải là nai). Sau đó, từ Ấn Độ mus tái giá sang châu Âu và sinh ra đứa con lai La-tinh là musculus. Hiểu theo nghĩa đen musculus chỉ là một con chuột nhỏ (mus + culus), nhưng vì thấy bắp thịt của con người chuyển động như chuột nhắt chạy nhảy nên các nhà tạo từ La Mã đã dùng nó theo nghĩa ẩn dụ để chỉ bắp thịt. Sau khi được Anh hóa, musculus đã biến thành dạng muscle của ngày nay. Trong tiếng Việt, bắp tay đồng nghĩa với bắp chuột và chứng vọp bẻ có thể gọi là bị chuột rút. Xem ra việc đồng hóa bắp thịt và chuột con không phải là sản phẩm tưởng tượng của riêng người La Mã.

XIN EM ĐỪNG NGẬM BÚT CHÌ

Một số người trong giới nữ quyền thường ưa đưa ra công thức “pen = penis” để làm cơ sở phê phán “sự thống trị của con cặc” trong văn học (và nới rộng ra, trong mọi lãnh vực chính trị và xã hội). Trong giới phê bình văn học Việt Nam chí ít cũng có vài ba người đã mù quáng bắt chước lối lý luận này. Đối với kẻ nhẹ dạ, đây là một màn ảo thuật rất ngoạn mục. Nhưng đối với những người biết dụi mắt và nhìn kỹ thì đó chẳng qua là một loại ký hiệu mang đầy dấu ấn của trò thổi phồng quá đáng—một loại lý luận được đơn giản hóa tột mực nhưng mang tính khái quát hóa bao trùm đến độ vớ vẫn. Có rất nhiều cách thức để nhận diện và phê phán sự lũng đoạn quyền lực của đàn ông trong lịch sử và xã hội nhưng loại tốc ký thô thiển này không có sức thuyết phục và chỉ mang lại hiệu quả phản tác dụng.

Về mặt từ nguyên, “pen is penis” là một lối chơi chữ hoàn hoàn không có căn cứ vì pen chẳng có quan hệ gì với penis. Gốc La-tinh của penpenna hay pinna chỉ có nghĩa là lông chim. Thời xưa người La Mã tỉa gọt các loại lông cứng để chấm mực viết nên gọi lông là bút (hay bút lông).

Thực ra, chữ có quan hệ trực tiếp với penis không phải là pen mà là pencil tức là cái mà ngày nay chúng ta gọi là bút chì. Nguồn gốc La-tinh của pencilpenicillus—do hai bộ phận ngữ tố là peniscillus cấu thành. Penis có nghĩa là con cu của con người hay cái đuôi của các động vật khác và hậu tố -cillus có nghĩa là nhỏ. Thời xưa bàn chải (và cách thức thao tác) của các họa sĩ La Mã giống đuôi động vật ve vẫy nên các nhà tạo từ đã gọi nó là penicillus—cái đuôi nhỏ. Đương nhiên, tôi sẽ không phản đối nếu các nhà nữ quyền luận khăng khăng muốn gọi nó là con cặc nhỏ. Có lẽ tôi chỉ mỉm cười rất lịch sự (để tỏ lòng tôn trọng) khi họ ngậm đầu bút chì để suy ngẫm về những lý thuyết phê phán “sự thao túng của con cặc” trong văn học cũng như trong xã hội.

Ý TƯỞNG TINH... DỊCH

Thay vì thổi phồng quá độ qua những lập luận hời hợt, không phản ánh chính xác thực tế từ nguyên cũng như lịch sử (chẳng hạn như “pen = penis” và “history = his + story”), giới nữ quyền đáng ra phải chú trọng nhiều hơn đến nhóm từ có cùng một nguồn gốc này: seminal, seminar, seminary. Đây là những ngữ tố biểu lộ sự khuynh loát quyền lực và tính “dương cường” của đàn ông trong văn học rõ ràng hơn bút lông và loại lịch sử vẽ nguệch ngoạc bên lề vở của đám trẻ thơ.

Seminarseminary là hai chữ có quan hệ mật thiết với các chương trình giáo dục cao cấp và chuyên môn. Ngoài việc mệnh danh một cuộc hội thảo chuyên đề nói chung ra, seminar còn có nghĩa là giáo trình nghiên cứu cao cấp dành riêng cho sinh viên hậu đại học và sinh viên sắp tốt nghiệp hệ cử nhân. Tương tự, seminary có hai nghĩa chính là (1) trường tư (dành riêng cho nữ sinh), nhưng ý nghĩa này bây giờ không còn thông dụng lắm và (2) trường dòng hay chủng viện (để đào tạo linh mục và tu nữ). Tuy lớn tuổi hơn, nhưng với tầm sáng tạo vượt bực vốn có, seminal cũng muốn biểu lộ khí khái trượng phu qua những ý nghĩa cơ bản như: có ảnh hưởng lớn đối với những phát triển về sau, có tác động mạnh, hay có sức chuyển biến.

Cả ba chữ này đều bắt nguồn từ gốc La-tinh là semen. Cho đến hiện tại vẫn có nhiều người cho rằng semen trong tiếng La-tinh chỉ đơn thuần có nghĩa là hạt giống của thực vật. Tuy nhiên, nếu tra cứu kỹ lưỡng thì thực ra nó còn có nghĩa là hạt giống của động vật—hay tinh trùng. Điều trớ trêu là sau khi được Anh hóa thì semen chỉ giữ lại ý nghĩa tinh dịch chứ không có nghĩa là hạt giống của thực vật. Từ ba thằng “tiểu tinh tử” cù bơ cù bất ở chốn hạ đẳng của cuộc đời, seminal, seminar,seminary đủng đa đủng đỉnh đi vào giảng đường đại học và giáo thất của tu viện rồi nhảy lên ngồi chễm chệ trên ghế trưởng tràng để cuối cùng trở thành biểu tượng cho sức sáng tạo mang tính đột phá. Sự phát triển mạnh mẽ của bộ ba này trong nhiều thế kỷ qua chính là chứng cứ không thể tranh cãi về vấn nạn nam giới lộng hành trong ngôn ngữ và văn học mà cho đến bây giờ vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt.

RỐI LOẠN TỬ CUNG

Ngày nay, ngoài các ý nghĩa mang tính chất bệnh lý ra, hysterical còn được dùng để biểu thị các trạng thái hầu như chẳng dính dáng gì đến y học như khôi hài, khả tiếu, hay vui nhộn. Tuy nhiên, nếu hiểu rõ gốc gác từ nguyên của nó thì chắc chắn chẳng mấy ai dám cười. Hippocrates, tổ sư của ngành Tây y, được cho là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ hysteria (mặc dù danh từ này không hề xuất hiện trong các văn bản do ông ta để lại). Từ thời Hippocrates cho đến giữa thế kỷ 19, hysteria chỉ được dùng để mệnh danh chứng cuồng loạn tâm thần của phụ nữ.

Đến cuối thế kỷ 19, Jean-Martin Charcot và Sigmund Freud đã bắt đầu dùng hysteria để chỉ chứng cuồng loạn nói chung (tức là có thể áp dụng cho cả đàn ông lẫn đàn bà). Đó là một chuyển biến đáng kể về mặt y học. Tuy nhiên, quyết định tiếp tục sử dụng thuật ngữ này là một sự thoái hóa đáng khiển trách về mặt ngôn ngữ học. Trong hơn hai thiên niên kỷ, Hippocrates và nhiều thế hệ y sĩ phương Tây nối tiếp theo sau đã đinh ninh rằng cuồng loạn tâm thần là một chứng bệnh mà giới phụ nữ dễ mắc phải hơn đàn ông vì theo họ “trục trặc tử cung” là nguyên nhân chủ yếu gây ra nó.

Trong tiếng Hy Lạp, hystera có nghĩa là tử cung và hysterikos có nghĩa là tử cung đau đớn. Lối suy diễn của họ rất đơn giản: khi bị tử cung hành hạ, tâm thần của phụ nữ trở nên thất thường. So với những quan niệm mê tín dị đoan—chẳng hạn như tà ma nhập thân hay quỷ ám—lý thuyết của Hippocrates xem ra có vẻ “khoa học” lắm và đó chính là lý do khiến nó có thể tồn tại hơn 2,000 năm. Điều mỉa mai thú vị là nếu hiện tại chúng ta bảo rằng đàn ông mắc chứng hysteria thì quả thật là lội ngược dòng phát triển của y học. Nhưng theo tôi trong cái rủi vẫn có cái may—every cloud has a silver lining—vì điều trớ trêu đó chí ít có thể tạo nên cơ sở cho việc sử dụng tính từ hysterical theo ý nghĩa khôi hài hay buồn cười.

Nam Hải Trường Sơn
Tháng 12, 2014
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn