Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 27 tháng 10 năm 2014

Vợ, Tình Nhân, Hay Tri Kỷ?



Đàn ông là một quái vật tham lam. Còn độc thân thì hăm hở muốn cưới vợ, có vợ rồi thì lại lén lút đèo bồng tình nhân, khi tâm tư trống rỗng thì bôn ba tìm kiếm hồng nhan tri kỷ. Chuyện tình của đàn ông đại khái cứ lẩn quẩn trong cái vòng duyên nghiệp đó (đương nhiên, không thể loại trừ trường hợp thứ tự bị đảo lộn). Chỉ vì điều kiện khác nhau nên mức độ “thành tựu” của họ có chỗ chênh lệch mà thôi.

Trong những lúc trà dư tửu hậu, tôi gạ hỏi đám bạn thân để làm một cuộc thăm dò bán khoa học. Nếu được chọn lựa tự do đứa nào cũng muốn có cả ba—điều đó chẳng có gì lạ, không cần hỏi cũng biết! Nhưng khi bị hạn chế “chọn một trong ba” thì kết quả khiến tôi rất đỗi ngạc nhiên: số lượng chọn lựa hồng nhan tri kỷ cao đến mức 75%, trong khi đó chỉ có 15% chọn vợ và 10% chọn tình nhân.

Thế vợ, tình nhân, và hồng nhan tri kỷ được hình dung và ví von như thế nào? Vợ trước hết là người mà bạn bằng lòng giao hết tài sản đã dành dụm được để nàng bảo quản—hoặc ngược lại. Tình nhân là người mà bạn hẹn hò vụng trộm vì sợ vợ bắt gặp và đánh ghen. Hồng nhan tri kỷ là người mà bạn có thể thố lộ những điều bí mật không thể nói cho vợ hoặc tình nhân nghe.

Vợ là luật lệ—hạn chế không cho bạn tùy tiện giao du với những người đàn bà khác. Tình nhân là một khoản bồi thường—đền bù cho sự thiếu thốn kích tình trong cuộc sống hôn nhân (cái mà bạn hằng ước ao nhưng không có cách nào đạt thành với vợ). Hồng nhan tri kỷ là một ngọn nến—soi sáng mê cung trong lòng bạn.

Vợ giúp bạn độ qua tháng ngày. Tình nhân giúp bạn tiêu pha tiền bạc. Hồng nhan tri kỷ chỉ cùng bạn hàn huyên tâm sự. Vợ không thể thay thế cho tình nhân vì vợ không có giai điệu yêu đương đặc thù của tình nhân. Tình nhân không thể thay thế cho vợ vì tình nhân không có mối tình thâm của vợ. Nhưng cả vợ lẫn tình nhân đều không thể đáp ứng nhu cầu tâm linh của bạn.

Vợ không có quan hệ huyết mạch với bạn nhưng nếu nửa đêm không thấy bạn về nhà nàng sẽ bồn chồn vỗ gối, trái tim đau nhói. Tình nhân chẳng có quan hệ gia đình với bạn nhưng có thể cho bạn tận hưởng hương vị tiêu hồn lạc phách. Hồng nhan tri kỷ không có quan hệ kích tình với bạn nhưng là người mà bạn sẵn sàng chia sẻ tất cả những gì sâu kín nhất trong tâm hồn.

Vợ là túp lều tranh giúp bạn tránh né sóng gió của cuộc đời. Tình nhân là khách sạn năm sao—nhưng sau vài đêm bạn sẽ bắt đầu hoài nghi trí tuệ cũng như khả năng của mình. Hồng nhan tri kỷ là ngọn hải đăng—không có, bạn sẽ cảm thấy mất phương hướng và cuộc sống thiếu thốn ý nghĩa.

Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.

Khi vợ mang thai, nàng sẽ âu yếm hỏi bạn thích con trai hay con gái. Khi tình nhân mang thai, nàng sẽ than khóc, cuống cả lên, rối rít đòi bạn phải lo chuyện danh phận. Chắc chắn bạn sẽ đem cái tin sét đánh ấy báo cho hồng nhan tri kỷ biết để hỏi nàng nên giải quyết bằng cách nào. Đối với vợ, bạn sẽ giữ kín bí mật cho đến phút chót và khi bị nàng phát hiện, bạn sẽ tìm đủ mọi cách để bào chữa, đổ thừa, hoặc năn nỉ và làm bộ đáng thương.

Vợ về quê ngoại suốt cả tuần nhưng bạn chẳng những không nhung nhớ mà còn hân hoan cho rằng đó là cơ hội để được hít thở không khí tự do. Không thấy tình nhân một ngày, bạn bấm điện thoại liền tù tì, lo lắng đủ thứ chuyện. Thế nhưng nếu có điều phiền toái thì người mà bạn muốn gặp nhất lại là hồng nhan tri kỷ—ví dụ, để kể lể rằng bị kẹp giữa vợ và tình nhân, bạn cảm thấy mệt mỏi rã rời và chỉ muốn buông lơi tất cả.

Điều khiến đàn ông khó chịu hơn hết là vợ ưa lải nhải, tình nhân nhỏ lệ, và hồng nhan tri kỷ hiểu lầm. Vợ ưa lải nhải khiến trái tim sắp hóa đá của bạn vỡ vụn. Giọt lệ của tình nhân sẽ làm cho tinh thần bấn loạn của bạn băng hoại. Bị hồng nhan tri kỷ hiểu lầm, linh hồn bạn sẽ rơi vào vực sâu tăm tối.

Vợ lý tưởng nhất là người mà trên hình hài của nàng bạn có thể tìm thấy bóng dáng của tình nhân và hồng nhan tri kỷ—nhưng đó là hai loại cảm quan chỉ tồn tại trong thế giới mộng mị. Tình nhân lý tưởng nhất là kẻ sẽ chủ động rút lui khi mối quan hệ bị vợ phát hiện và tuyệt đối không đòi hỏi bạn phải làm bất cứ điều gì cả—nhưng xác suất trên thực tế của hiện tượng này chưa bao giờ đạt mức một phần trăm. Hồng nhan tri kỷ lý tưởng nhất là người mà bạn hy vọng một ngày nào đó sẽ trở thành tình nhân—hoặc thậm chí vợ—nhưng sự thật đó chỉ là ảo vọng.

Nếu có khả năng, đàn ông ai cũng muốn biến hồng nhan tri kỷ thành tình nhân và nếu càng có nhiều khả năng hơn nữa chắc chắn họ sẽ thừa thắng xông lên biến nàng thành vợ. Nhưng cái trớ trêu muôn thuở là khi đã trở thành vợ rồi thì hồng nhan tri kỷ không còn là tri kỷ nữa. Bởi vì đàn ông chẳng mấy ai cam tâm xem vợ là tri kỷ. Họ có lắm điều bí mật không muốn tùy tiện thố lộ cho vợ biết, nếu không họ đâu còn là đàn ông nữa, phải không?

Đàn ông cưới vợ chủ yếu là vì hiếu thắng (đương nhiên không thể loại trừ những yếu tố phụ như lợi ích, trách nhiệm, và tình yêu). Họ ao ước có được tình nhân chẳng qua là để nêm thêm vào nồi “râu tôm nấu với ruột bầu” một ít bột ngọt cho nó bớt đơn điệu. Họ bôn ba đi kiếm hồng nhan tri kỷ vì cảm thấy chiến lợi phẩm không còn khả năng điền bổ tâm linh trống trải của họ—có lẽ họ đang thèm món canh súng cá bông lau.

Bến bờ khổ não của đàn ông có thể phân thành bốn cấp như sau—cấp số càng cao khổ càng bạo:

Cấp 1: Có vợ, có hồng nhan tri kỷ, không có tình nhân.
Cấp 2: Có vợ, có tình nhân, không có hồng nhan tri kỷ.
Cấp 3: Có vợ, không có tình nhân, không có hồng nhan tri kỷ.
Cấp 4: Không có vợ, không có tình nhân, không có hồng nhan tri kỷ.

Cần bổ sung thêm đôi điều để bạn hiểu rõ hơn về bảng phân cấp này. Thứ nhất, đối với một số người, cấp 1 và cấp 2 có thể hoán đổi vị trí cho nhau. Thứ hai, đừng tưởng rằng các gã hòa thượng ai cũng khổ cấp 4 hết nhé. Không riêng gì giới “sư quốc doanh” mà hầu hết các “thầy” cũng thực thi giáo lý “không tức thị sắc, sắc tức thị không” rất nghiêm túc. Bởi thế, tuy về mặt hình thức có thể bị xếp vào cấp 4 nhưng trên thực tế lắm lúc họ hạnh phúc hơn cả bạn và tôi đấy.

Thời nhà Thanh, Hà Trăn có một câu đối chẳng mấy ai biết đến—vì bản thân y chỉ thuộc hạng vô danh tiểu tốt: “Nhân sinh đắc nhất tri kỷ túc hĩ, Tư thế đương dĩ đồng hoài thị chi.” (“人生得一知己足矣,斯世當以同懷視之.”) Đến năm 1933, Lỗ Tấn phát hiện được và mượn nó để cảm tạ bạn thân Cù Thu Bạch (tổng bí thư thứ hai của đảng cộng sản Tàu) đã viết bài tựa và hết lời ca ngợi cuốn "Lỗ Tấn Tạp Cảm Tuyển" của mình. Từ đó người ta cứ ngỡ rằng Lỗ Tấn là tác giả, bởi thế câu đối này từ xó bếp nhảy lên ngồi chễm chệ trên văn đàn Trung Quốc, danh tiếng nổi như cồn.

Lỗ Tấn muốn đồng hóa “tri kỷ” với “đồng hoài” tức là người đồng lòng hay đồng chí về mặt chính trị. Nhưng đó chỉ là một khía cạnh của tri kỷ, tuy quan trọng nhưng không phải toàn bộ. Đối với tôi, câu đối này chẳng có gì đặc biệt vì kỹ thuật đối thiếu chặt chẽ về cả hai mặt hình thức lẫn nội dung. Chí ít, nó không hay bằng câu thành ngữ mà đồng bào của Lỗ Tấn ai cũng ưa dùng—nôm na, đơn giản, nhưng bao quát và mãnh liệt hơn: “Nhân sinh đắc nhất tri kỷ, tử nhi vô hám.” (“人生得一知己,死而無憾.”)

Nếu mượn công thức của Mạnh Tử để đúc kết thì có thể nói rằng: Tri kỷ vi quý, thê tử thứ chi, tình nhân vi khinh. Đàn ông không vợ, không thành vấn đề, không tình nhân càng là chuyện nhỏ. Người ta thường nói “ngàn vàng dễ kiếm, tri kỷ khó tìm” và hồng nhan tri kỷ thì đương nhiên lại càng khó tìm hơn. Nhưng đừng vì thế mà nhụt chí nam nhi, đối với đàn ông điều quan trọng hơn cả là suốt đời phải rán sức tìm cho bằng được chí ít một hồng nhan tri kỷ. Để đến lúc nhắm mắt xuôi tay chẳng còn có gì đáng ân hận—tử nhi vô hám. Nhưng đó chỉ là thiển kiến của riêng tôi.

Còn bạn thì sao? Bạn đã xác định được cấp độ hạnh phúc của mình chưa?

Nam Hải Trường Sơn
Cuối tháng 10, 2014



[ Đọc Tiếp ]

Ngày 30 tháng 09 năm 2014

Dũng Khí



Tớ chẳng biết
Phải chăng
Yêu là chết
(Ở trong lòng một ít)
(Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu)
(Như lời thơ Xuân Diệu)

Bởi
Có khả năng
Yêu là sống
(Với tâm hồn lãng mạn)
(Vì mấy ai yêu mà chẳng mộng mơ)
(Theo triết lý vu vơ của tớ)

Nhưng có một điều
Rất cần thiết
Nhất định
Phải nên viết vào thơ

Rằng
Dẫu vui sống
Hay là buồn muốn chết
Yêu
Trước hết
Cần phải biết gan dạ
Tức là
Ở mọi nơi, mọi lúc
Và bằng mọi cách
Phải dám
Làm
Cho
Đối phương
Được hạnh phúc

Nam Hải Trường Sơn
Tháng 9, 2014 
[ Đọc Tiếp ]

Ngày 25 tháng 09 năm 2014

“Sống Cùng Lịch Sử” Là Triệu Chứng “Chết Theo Định Hướng”






Nối gót “Thái Sư Trần Thủ Độ” và “Lý Công Uẩn” để trở về với “Huyền Sử Thiên Đô” trong cung điệu bao cấp êm ấm, “Sống Cùng Lịch Sử” lại lần nữa chứng minh rằng số phận không thể tránh khỏi của loại lịch sử pha chế khiên cưỡng là chắc chắn sẽ được xếp... vào kho. “Sống Cùng Lịch Sử” là một bộ phim được thực hiện để kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ và vinh danh Võ Nguyên Giáp, nhưng vừa ra rạp chưa bao lâu đã phải ngưng chiếu vì... ế khách. Theo báo cáo của những trang mạng lề phải, sau hai tuần trụ ở rạp Kim Đồng ngay giữa thủ đô Hà Nội vào đầu tháng 9, “Sống Cùng Lịch Sử” không bán được dù chỉ một vé. Nhưng đây không phải là loại phim dzổm rẻ tiền mà là một trong những bộ phim lịch sử có kinh phí lớn nhất của Việt Nam. Chính quyền Hà Nội đã đầu tư đến 21 tỷ đồng tiền thuế của người dân để hoàn thành bộ phim này—với nhiều dàn dựng “kì công.”

Năm ngoái ông Giáp chết, nhiều người dân đến sắp hàng dài ra tận ngoài đường để mong được nhìn thấy linh cữu ông ta một lần cuối cùng. Nhưng tại sao, chưa đầy một năm sau, các rạp chiếu phim ca ngợi chiến công “hiển hách” của vị tướng “thiên tài” này lại vắng tanh như chùa Bà Đanh? Không phải họ đã lãng quên mà vì cái động cơ ấy không còn nữa. Năm ngoái phần lớn được ”Sống Cùng Lịch Sử” thuê làm diễn viên đóng vai quần chúng đến phúng điếu ông Giáp cho nên họ đã không ngần ngại tập trung trật tự bên hè phố từ lúc tờ mờ sáng. Bây giờ, theo lý giải của một người bạn blogger sống tại Hà Nội thì rõ ràng là:

Có tiền đứng cổng đợi tang
Không tiền rạp chiếu rình rang ai vào?

Trong khi đó Nguyễn Thanh Vân, đạo diễn của bộ phim, lại đưa ra những biện minh hầu như tự mâu thuẫn. Ông đạo diễn một mặt thì cho rằng chiến lược quảng bá và tiếp thị thiếu hiệu quả (vì thiếu tiền) là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại, nhưng mặt khác thì trách móc rằng khán giả bây giờ không thích phim lịch sử và điều này “chỉ có thể thay đổi khi xã hội xây dựng hệ thống giáo dục ý thức lịch sử dân tộc tốt hơn.”

Một khi thị hiếu của khán giả đã không còn thì dẫu có bỏ ra hàng chục tỷ đồng để làm PR cũng chưa chắc có thể một sớm một chiều cứu vãn được tình thế. Về mặt xã hội, không phải khán giả Việt Nam thiếu ý thức lịch sử dân tộc như lời cáo buộc của ông đạo diễn mà ngược lại. Chẳng qua là họ đã ngán tới tận cổ loại lịch sử do đảng nhào nặn và thêu dệt liên tục trong mấy chục năm nay. Đối với họ, bộ phim này cũng chỉ là công cụ để tiếp diễn quá trình đó, bởi vậy vừa thấy cái tít có hai chữ “lịch sử” là đã vắt giò lên cổ chạy dài, chẳng ai buồn vào xem—mặc dù “Sống Cùng Lịch Sử” được chiếu trong những khung giờ ưu tiên và giảm giá vé. Sự thực là siêu phẩm điện ảnh này đã “chết yểu” ngay từ khi còn chưa ra rạp. Trong suốt tuần phim miễn phí (từ 24 đến 30 tháng 4) năm nay, nó đã được chiếu ở khắp nơi cho học sinh và sinh viên xem không nhưng kết quả cũng thất bại ê chề.

“Ế khách” không phải là vấn đề riêng của ngành phim Việt Nam mà là một căn bệnh kinh niên của nền văn học nghệ thuật Việt Nam nói chung. Chẳng hạn, theo đánh giá của nhà văn Hoài Hương: “Nếu lấy mốc thời gian từ đầu thế kỷ 21 đến nay để làm một cuộc tổng kết sẽ thấy, 15 năm qua số lượng tác phẩm có giá trị chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay trong khi số lượng người cầm bút viết văn trên cả nước thì không sao đếm xuể.” Đây chính là “điều trăn trở bấy lâu nay” của những người trong cuộc, bởi vậy vào cuối tháng 11 năm ngoái, Hội Đồng Lý Luận Phê Bình Văn Học Nghệ Thuật Trung Ương (sau đây sẽ được gọt tắt là “Hội Đồng”) đã tổ chức một cuộc hội thảo tại Sài Gòn để tìm cách giải quyết vấn nạn này, qua khẩu hiệu: “Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thực trạng và giải pháp.”

Thẳng thắn và ít hoa mỹ hơn là nhận định của nhà văn Chu Lai: Trọng tâm của cuộc hội thảo này nhắm vào “câu hỏi chưa có lời giải đáp: Tại sao chúng ta chưa có tác phẩm xứng tầm?” Hay nói nôm na theo ngôn ngữ của người bình dân: Văn nghệ sĩ Việt Nam chỉ sáng tạo hàng dzổm và họ đang luống cuống vì chưa có cách gì để nâng cao chất lượng. Kỳ hội thảo này quy tụ nhiều đại ca có máu mặt (và máu tay) của giới văn học nghệ thuật bao gồm đủ thứ GS, PGS, TS, ThS, NS...ND, NS...ƯT, và cả cựu TBT Lê Khả Phiêu. Nhưng điều chẳng có gì đáng ngạc nhiên là lý giải của họ phần lớn đều thuộc loại hô khẩu hiệu, theo luồng, lấy lệ. Bất kể danh tước của họ có gắn loại chữ S nào, đối với giới độc giả, hầu hết những người tham luận chỉ giỏi BS (vâng, động từ, đọc theo âm tiếng Anh là “bi ét-xơ”). Sau đây là nhận định của một vài người tham dự hội thảo có tư cách tay to mồm lớn.

Nguyễn Hồng Vinh, chủ tịch Hội Đồng, cổ động theo kiểu đĩa hát cũ mèm: “Những nội dung bàn thảo hôm nay nhằm tạo ra sự thống nhất trong nhận thức lý luận cũng như đánh giá đúng tình hình sáng tạo văn học, nghệ thuật hiện nay. Trên cơ sở đó nêu lên những giải pháp thiết thực góp phần cổ vũ, động viên, khuyến khích, tạo đà thúc đẩy quá trình sáng tạo văn học nghệ thuật, giúp chúng ta có thêm nhiều tác phẩm có giá trị cao về nội dung tư tưởng và giá trị nghệ thuật.”

Đào Duy Quát, phó chủ tịch Hộ Đồng, lý giải rằng đảng đã làm tốt nhiệm vụ bồi dưỡng tài năng và năng khiếu (nên hỏi ông Quát phải chăng đây là hai thực thể riêng biệt) nhưng chỉ tiếc rằng ông Trời chưa sinh ra những kẻ có tài ba siêu việt hơn nên đành chịu thôi: “Nghệ thuật 15 năm qua nhìn chung là chất lượng tác phẩm chưa tương xứng với số lượng. Và điều đáng quan tâm là … chúng ta mới có đội ngũ văn nghệ sĩ có tài năng, năng khiếu, chưa có tài năng lớn và thiên tài.”

Trong khi đó nhà văn Sương Nguyệt Minh không chỉ “than Trời” mà còn trách cả người: “Nguyên nhân chưa có tác phẩm văn chương đỉnh cao là do chưa xuất hiện thiên tài văn chương; thiếu vắng nhà văn có tư tưởng lớn; chưa đam mê quyết liệt, không dấn thân tận cùng; nhà văn đang bị tán tài (vừa phải làm công chức, vừa sáng tác); nhà văn thiếu sự liên tài (ít cảm thụ tác phẩm của các ngành nghệ thuật khác, ít đọc các tác phẩm của nhau, không phục nhau, thích bới lông tìm vết…); nhà văn thiếu những bi kịch lớn (bởi cuộc sống phẳng lặng, ổn định khiến nhà văn không thể đau đớn, dằn vặt, bị khắc khoải hoặc bị giày vò, từ đó tạo nên chất liệu văn chương)."

Còn cựu TBT Lê Khả Phiêu thì nhấn mạnh giải pháp “ra đi” theo định hướng xã hội chủ nghĩa để bươn lên đỉnh cao nghệ thuật: “Đi thế nào thì tùy theo đặc điểm của từng ngành, từng người, nhưng nhất thiết phải đi. Đi với thái độ dấn thân, nhập cuộc hết mình, đi với góc nhìn và tầm nhìn đúng đắn nhất định chúng ta sẽ tìm ra chủ đề, nhân vật và cũng để nâng cao, làm mới tư tưởng, tình cảm của chúng ta nữa. Nhất định chúng ta sẽ có những tác phẩm ghi dấu đẹp đẽ về sức vươn tới của con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.”

Nhưng nói một cách công tâm, dẫu thực sự có ý kiến xây dựng có chiều sâu và thiết thực hơn, tất cả những người tham dự kỳ hội thảo này (cũng như bất cừ một kỳ hội thảo nào trong quá khứ hay tương lai) đều không thể không BS theo đường lối của đảng—nếu họ không muốn bị “định kiến” hay bị chụp mũ “tiêu cực và lệch lạc.” Hội Đồng là cơ quan tham mưu của đảng và nhà nước trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, do Ban Bí Thư chỉ đạo và Ban Tuyên Giáo Trung Ương (sau đây sẽ được viết tắt là “BTGTƯ”) quản lý. Trên thực tế, nó là cơ quan cầm đầu mạng lưới kiểm duyệt của đảng, hoạt động dựa trên cơ sở “lý luận văn học-nghệ thuật và mỹ học Marxist, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng về văn hóa, văn nghệ...” (trích lời phát biểu chỉ đạo của Đinh Thế Huynh—trưởng BTGTƯ—trong kỳ họp lần thứ 10 của Hội Đồng vào ngày 16 tháng 8, 2014). Dưới Hội Đồng mẹ này còn có hàng chục tá hội đồng con giữ vai trò "mục phu" trong các ngành ngang dọc ở cấp địa phương—để bảo đảm âm hưởng bê be của giới văn nghệ sĩ không thể tạo nên bất cứ một khúc điệu nào chối tai đảng.

Sức quyến rũ của sự biểu đạt nghệ thuật phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của văn nghệ sĩ—tức là khả năng thách thức hay khuyến dụ người khác nhìn thế giới bằng một lăng kính mới qua sản phẩm do trí tưởng tượng của mình tạo ra. Không có sáng tạo, biểu đạt nghệ thuật chỉ là nỗ lực kéo dài cái nhàm nhạt cố hữu và giá trị của nó chỉ nằm trong giới hạn phục vụ những gì được áp đặt (hay chấp nhận) trong hiện tại. Kiểm duyệt là nọc độc giết chết khả năng sáng tạo bởi vì nó không chỉ cướp mất quyền tư duy độc lập của văn nghệ sĩ mà còn loại trừ (hay chí ít là hạn chế nghiêm ngặt) luận thuật cũng như quá trình cho-và-nhận theo chiều hướng đa nguyên và nhân bản. Tệ hơn nữa, nó còn hủy hoại, che dấu, hay bóp méo sự thật cũng như những cộng thức cơ bản dựa trên giá trị phổ cập của nhân loại.

Trong một xã hội toàn trị, tất cả mọi thứ được mệnh danh là sáng tạo hoặc độc lập đều giả tạo vì nhiệt tình và sức tưởng tượng không có cơ hội để phát huy và khai sinh bất cứ cái gì có ý nghĩa. Văn học nghệ thuật dưới chế độ cộng sản Việt Nam chỉ là ảo ảnh vì nó không thực sự quan tâm đến nhu cầu tự biểu đạt chân thành của văn nghệ sĩ mà chỉ vận hành như một công cụ để củng cố quyền thống trị của đảng. Đã hơn 60 năm nay, những ai có quan điểm bất đồng đều bị đàn áp, tống tù, hay xử tử. Bởi thế văn học nghệ thuật phải tránh né mọi tiếp cận có ý nghĩa mỹ học chân chính (mà tuyên dương ý niệm tự do, bình đẳng, đa nguyên, và đa văn hóa là một khía cạnh quan trọng). Đó mới chính là lý do khiến văn học nghệ thuật thiếu phẩm chất và sức quyến rũ.

Đã đến lúc—thực sự là đã quá lúc—giới văn nghệ sĩ Việt Nam vùng lên để chất vấn, thách thức, đả kích cái đại tự sự thối nát và lỗi thời do đảng áp đặt để bắt họ phục tùng và trung thành. Họ phải phá chuồng, đạp rào, bỏ lề chứ không thể cứ tiếp tục bê be như thế mãi. Đó là điều kiện tiên quyết để thăng hoa cũng như tạo dựng niềm tin và lòng hâm mộ của khán, thính, độc giả.

Vả lại đó không phải chỉ đơn thuần là nỗ lực nâng cao chất lượng tác phẩm mà còn là biểu hiện hiện của danh dự và lương tri.

Nam Hải Trường Sơn
Tháng 9, 2014

[ Đọc Tiếp ]

Ngày 07 tháng 09 năm 2014

Mưa Điên Sài Gòn





Quê em lắm điệu say sưa
Đất trời cũng xỉn, cũng ưa làm tàng
Trưa vàng nắng đổ chói chang
Đùng đùng một trận tạt ngang phố phường
Tuôn như thác loạn, suối cuồng
Xôn xao giây phút mặt đường hóa sông
Gió mưa dạo khúc bốc đồng
Sài Gòn quen thói chơi ngông giỡn đời

Thương tà áo trắng tả tơi
Thương vành môi thiếu nụ cười thiết tha
Thương đôi má thắm nhạt nhòa
Thu ba sầu muộn, hồn hoa bẽ bàng
Dầm dề bao nỗi phũ phàng
Hàng cây trút lá khóc nàng tái tê
Lom khom chạy nép bên lề
Nón bay ai nhặt, tóc thề ai lau?

Hà Thành nặng hạt mưa ngâu
Ngưu Lang, Chức Nữ gặp nhau tủi mừng
Sông Ngân nhỏ lệ tương phùng
Thăng Long lất phất, chín từng yêu thương
Mưa giăng núi Ngự, sông Hương
Tạ ơn công chúa dặm trường ra đi
Hy sinh mộng ước sá gì
Thần Kinh vân vũ thầm thì Huyền Trân

Mưa trên phố Huế nghĩa ân
Mưa ngoài Hà Nội tần ngần xót xa
Long lanh từng chuỗi ngọc ngà
Dẫu rơi ... rơi mãi ... đậm đà nước non
Cớ sao chỉ có Sài Gòn
Cứ ưa giận dỗi, oán hờn ... vô duyên
Bao giờ mới biết dịu hiền?
Eo ôi, chán ngấy mưa điên Sài Gòn! 




Nam Hải Trường Sơn
Canada, một ngày cuối hạ

Thương tặng người em gái Sài Thành
vẫn còn lận đận với những chiều mưa lụt đường.



[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Vietnam Unadulterated — No Uncle, No Party, No Bullshit
Việt Nam Thuần Khiết — Không Bác, Không Đảng, Không Cứt Bò


 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn