Chào Mừng Bạn Đến Với Blog Nam Hải Trường Sơn



Bởi thế, chúng ta chớ uống loại giải khát Kool-Aid mà Bắc Kinh đang rao bán. Chừng nào Trung Quốc từ bỏ yêu sách "chủ quyền không thể tranh cãi" trên Biển Đông, thay đổi hoàn toàn chính sách vốn có từ lâu để hỗ trợ cho quyền tự do trên biển cả và không gian, và quan trọng hơn hết là tranh thủ được sự đồng thuận và hợp tác của các nước láng giềng tại châu Á, chừng đó tôi sẽ nhiệt liệt hoan nghênh những so sánh thuộc loại mà vị đại tá cao cấp trong câu chuyện của Kaplan đã đề xuất.

Cho đến khi điều đó xảy ra ... hãy dẹp cái này sang một bên nhé.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 29 tháng 07 năm 2014

Cô Gái Huế Với Tranh Thiếu Nữ Của Họa Sĩ Đinh Cường



Tôi nhớ, khoảng năm 1970, sau khi tốt nghiệp trường Hành Chánh, tôi được bổ về Thừa Thiên, Huế làm việc. Nhiệm sở là quận Quảng Điền, với chức vụ phó quận hành chánh. Quảng Điền cách Huế vài chục cây số, có cái địa danh rất nhiều người biết là phá Tam Giang với hai câu thơ “Thương em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” Phá Tam Giang cách quận lỵ, là chợ Ngũ Xã, chừng một cây số. Thỉnh thoảng tôi ra đứng nhìn cái đầm nước rộng mênh mông đó mà chẳng thấy một chút xúc động, mơ mộng nào. Phía bên kia mờ mịt bờ dương liễu xanh thẫm, xa đến nổi thành một vạch dài, chia cắt nước với trời. Sau lưng tôi là bờ đất với những cây dại rải rác. Làng xóm ở tít đằng xa. Sau lũy tre xơ xác là những ngôi nhà tranh lụp xụp bên cạnh những thửa ruộng, những con đường quê vắng vẻ. Chiến tranh đã tiêu diệt một số người, một số khác tìm về thành phố sống lây lất, chỉ còn lại những người liều chết, sống bám ruộng đồng để săn sóc mồ mả tổ tiên, ông bà, cha mẹ...

Không rõ thời phát sinh hai câu thơ trên, phá Tam Giang nguy hiểm ra sao, chứ lúc đứng nhìn mặt nước yên tĩnh, bao la, tôi chẳng thấy sóng gió gì cả! Vậy mà cái anh chàng bạc tình nào đó nỡ ngâm nga hai câu thơ trên để nại lý do không thể vào Huế gặp “em”. Hay là anh ta cũng có cố gắng vượt được truông Nhà Hồ, vào đến phá Tam Giang, thấy cảnh vật quá đìu hiu, anh ta cụt hứng, tặc lưỡi một cái và quay về với cô hàng xóm?! Đã vậy còn có người bày đặt, thêm hai câu “Phá Tam Giang giờ rày đã cạn. Truông nhà Hồ, nội tán cấm nghiêm” Cô nào mà thèm nói như thế? Thứ con trai hèn nhát, “thiếu tư cách” cỡ đó mà người đẹp phải năn nỉ? Cô gái Huế, từ bao đời nay, là tiểu thư khuê các, vương tôn công tử thiếu điều quì lạy, chắc gì được để mắt đến, chưa nói đến gia pháp nghiêm minh, kín cổng cao tường, làm sao có chuyện liên hệ nam nữ, dù là quen biết, với một người con trai ở xa đến độ phải vượt truông nhà Hồ, vượt phá Tam Giang?...

Ủa! Thế còn tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường đâu, sao không nói đến? Xin thưa, vì yêu cô gái Huế quá nên tôi lạc đề! Mà cái tình yêu đó nó có nguyên nhân sâu xa nên tôi xin được phép dài dòng thêm chút nữa.

Năm đó tôi khoảng 15 tuổi, ở Hội An. Nhân dịp nghỉ hè, tôi rủ thằng bạn hàng xóm (đó là thằng Đỗ Đình Tân, hiện nay ở Philadelphia), làm một chuyến phiêu lưu ra Huế. Hai đứa tôi chưa biết Huế bao giờ, cũng không có bà con nào ở Huế cả, vậy mà cứ đón xe đi bừa. Trong túi chẳng có nhiều, chỉ đủ trả tiền xe đò, còn thừa chút đỉnh thì ăn bánh mì không (không có nhân), uống nước máy bên đường. Chúng tôi xuống xe ở bến An Cựu, bắt đầu lang thang khắp nơi. Đến dốc Nam Giao, qua nhà ga, thăm trường Đồng Khánh, trường Quốc Học, qua cầu Trường Tiền, đến chợ Đông Ba, vào thăm Đại Nội... Nghĩa là đọc sách, rồi hỏi người ta nơi nào nổi tiếng ở Huế là đến.

Buổi chiều, sau khi đi rã cẳng, hai đứa tôi đến bãi cỏ trên bờ sông Hương, ngay trước nhà sách Ưng Hạ, nằm dài ra, vừa chuyện trò vừa đón gió mát... Khi đèn đường sáng lên thì trời cũng chạng vạng. Hai đứa tôi chợt thấy bên kia đường, một cô bé đi qua, tay ôm chiếc chiếu. Cô lớn hơn tụi tôi khoảng vài tuổi, người mảnh khảnh, tóc ngang vai, mặt trái xoan dài trông vừa yểu điệu vừa ngây thơ. Có lẽ cô xem hai đứa tôi như em nên cử chỉ, lời nói rất tự nhiên tuy trong lúc đối đáp cô không xưng chị mà cũng không gọi tụi tôi bằng em. Giọng vui và dịu dàng, cô nói là cho hai đứa tôi mượn chiếc chiếu để ngủ, sáng mai đem trả lại – Cô chỉ nhà cô, bên kia đường – Có lẽ ba mẹ cô đứng trên lầu thấy hai thằng nhỏ vô gia cư nên sai con gái đem qua cho mượn chiếu. Chúng tôi rất cảm động, lí nhí cám ơn. Đã tử tế cho mượn chiếu, cô còn ân cần hỏi thăm mấy câu “Nhà ở mô?’ “Ở Hội An” “Hội An là ở mô?” “Đi vô Đà Nẵng rồi đi vô Hội An, xa lắm!” “Có đi học không?” “Có, học trường Trần Quí Cáp.” Cô cười, miệng rất đẹp, mắt cũng rất đẹp “Con trai đi chơi sướng hỉ!”

Cô đi qua đường, vô nhà rồi mà hai đứa tôi vẫn còn ngẩn ngơ. Được người đẹp nói chuyện thân mật như thế, là lần đầu trong đời nên tôi cứ tưởng cô là cô tiên hiện ra như trong chuyện cổ tích vậy. Và hình ảnh cô, lời cô nói, đôi mắt, miệng cười của cô, tôi nhớ mãi đến bây giờ... Buồn ngủ lại gặp chiếu hoa, lại là chiếu do người đẹp đưa, chúng tôi trải lên cỏ, êm như nằm nệm. Hai đứa tôi ngủ thẳng một giấc đến sáng. Tỉnh dậy mới biết là bị mất giày sandale (giày có quai) và cả mũ hướng đạo (mũ rộng vành) nữa. Thời đó, giày có quai và mũ rộng vành là thời trang của bọn học trò. Đành mua một đôi dép rẻ tiền đi tạm.

Chừng đó tuổi mà tôi đã biết mê gái, nên tôi giành phần đi trả chiếu. Cô bé đã đứng chờ sẵn trước cửa để nhận lại chiếu. Lần nầy tôi thấy cô đẹp hơn hôm qua, nhưng không biết làm thế nào để kéo dài thời gian gặp gỡ, tôi đành hỏi “Xuống sông tắm có được không?” Cô nhìn tôi, mắt sáng trưng vẻ như ngạc nhiên và cô cười “Được!” Đoán chừng cô sẽ lên lầu xem hai đứa tôi làm gì nên tôi nổi máu anh hùng, cởi đồ nhảy xuống sông biểu diễn bơi lội. Cái bờ sông Hương rất cao, đứng nhìn qua bên kia, thấy gần, nhưng xuống nước tôi bơi hoài, mỏi nhừ cả chân tay mà cũng chưa đến bờ! Cầu Trường Tiền sáu vày, mười hai nhịp, thì sông Hương đâu phải hẹp. Khi đến bờ bên kia, tôi sợ quá, không dám bơi trở lại nữa. Thế là tôi cứ mình trần, mặc chiếc quần đùi ướt mem, chạy dọc bờ sông, lên cầu Trường Tiền, chạy vòng về chỗ cũ.

Xứ Huế, bấy giờ, các bà gánh hàng bán ngoài chợ còn mặc áo dài, thì cảnh một thằng nhỏ cứ trần trùng trục chạy ngờ ngờ qua cầu, trên đường phố là một chuyện lạ. Có lẽ họ tưởng tôi điên. Khi về đến nơi, tôi nhìn qua bên kia đường, thấy cô bé đứng trên lầu, tựa lan can, nhìn tôi cười. Tôi không nhớ mình có mắc cỡ không, nhưng tôi cũng nhìn cô và cười. Và tôi yêu cô ta từ đấy. Tự nhiên mà yêu chứ chẳng có nguyên nhân nào cả. Vì yêu cô bé đó mà tôi yêu lây qua tất cả cô gái Huế. Tôi yêu lòng tốt của cha mẹ cô và yêu thương luôn người dân Huế. Thời đó còn nghỉ hè, trường học đóng cửa, nhưng tôi cũng có gặp được nhiều người đẹp trên các đường phố. Cô nào cũng đẹp dịu dàng và làm điệu khi được con trai nhìn. Dĩ nhiên hai thằng nhà quê, ngơ ngáo như tụi tôi thì cô nào mà thèm làm điệu. Sau nầy, khi vào Sài Gòn học, xem triển lãm tranh của họa sĩ Đinh Cường, thấy tranh thiếu nữ của ông ta, tôi biết ngay là ông vẽ các cô gái Huế. Đúng hơn, ông vẽ cô bé mà tôi yêu.

Nếu Từ Bi Hồng của Trung Hoa ngày xưa nổi tiếng vì chuyên vẽ về ngựa thì họa sĩ Đinh Cường vẽ tranh thiếu nữ là tuyệt vời. Vị nào đã sống ở Huế một thời gian, đã thấm được cái hồn của Huế, đã cảm nhận được những gì giấu kín sau gương mặt bình thản như lạnh lùng của cô gái Huế thì mới thấy tranh ông đã thể hiện được cái nội tâm bí ẩn đó. Giòng sông Hương lặng lờ, những con đường yên tĩnh. Đại nội, lăng tẫm, đền đài lúc nào cũng như ngủ say với thời gian, ngay cả con người trên đường phố, cũng di chuyển từ tốn, thong thả...

Nhưng không ai biết rằng, trong những khu vườn tưởng chừng vắng vẻ, trong những ngôi nhà cổ kính im lìm, ngay cả trong những cửa hàng buôn bán, những cuộc gặp gỡ quen biết, bao giờ cũng như xôn xao những tin đồn, những lời đàm tiếu khắc khe, có khi đến cay độc của những người đàn bà, những cô gái thì thầm về những người đàn bà, những cô gái khác. Và thế là, như một truyền thống, tất cả đều được giấu kín. Các cô, từ bé, đã được dặn dò là phải đề phòng một thứ gió độc, vô hình nhưng nguy hiểm, đó là dư luận. Người lớn tuổi làm gương cho lớp trẻ thấy cách thức che dấu những ý nghĩ, những tình cảm của mình. Nhưng khổ nỗi, tuổi mới lớn nào mà không mơ mộng. Tâm hồn cô nào cũng như sợi tơ trước gió, chỉ một chút giao động là đã ngân lên biết bao âm điệu ngọt ngào, thánh thót. Nhưng biết làm sao?! Chỉ có họa sĩ Đinh Cường mới “vẽ” được những bâng khuâng, những mơ mộng vẫn vơ đó ẩn dưới cái vẻ yểu điệu thục nữ, dưới gương mặt dịu dàng nhưng làm như vô tình của các cô gái Huế.

Thời còn đi học ở Sài Gòn (trước 75), xem tranh Đinh Cường, bao nhiêu năm rồi mà tôi vẫn còn nhớ hầu hết các tranh thiếu nữ của ông. Đa số các cô đều ốm, chân tay khẳng khiu, cổ cao, ngực chưa phát triển. Đó là những cô bé điển hình trong những gia đình nền nếp ở Huế. Các cô được nuông chìu quá nên thành nhỏng nhẽo, khó tính. Các bà mẹ thường kêu lên “Nó không chịu ăn. Có ngon bao nhiêu, dỗ giành bao nhiêu, nó cũng chỉ ăn có chút xíu. Không biết tại sao nữa?!” Thì tại sao! Tuổi đó phải ăn quà rong mới lớn được. Tuổi đó phải nô đùa, cười nói, chạy nhảy mới phát triển. Mà các bà mẹ Huế thì cấm tiệt. Thỉnh thoảng lắm, các cô mới lén rủ nhau đi ăn chè Cồn, ăn bánh bèo Vĩ Dạ. Bún mụ Rớt thì chỉ nghe người khác khen ngon hoặc họa hoằn lắm mới liều đi ăn thử, để biết với bạn bè. Ở nhà cũng có bún, có chè, có đủ thứ nhưng các cô không thấy ngon vì không vui, vì không có bạn bè cùng sì sụp với nhau. Các cô không thấy ngon vì thiếu cái khung cảnh chộn rộn của quán ăn, thiếu làn gió mát sông Hương, thiếu cây cỏ, đường đất khó khăn khi chở nhau trên chiếc xe đạp và nhất là thiếu bóng dáng mấy cậu học trò cứ lởn vởn, lượn lờ chung quanh với những lời chọc ghẹo vu vơ, bóng gió...

Tôi nhớ mãi bức tranh ông vẽ một cô, giống cô bé đã cho hai đứa tôi mượn chiếc chiếu. Cô choàng khăn nhiều màu rực rỡ. Có lẽ vào mùa Thu, gió thổi tung chiếc khăn, thổi tung cả mái tóc, thổi tung cả tâm hồn mới lớn, yêu người, yêu đời của cô... Và những cành lá của hàng cây bên đường cũng như lao xao, rung động. Nền là bầu trời xám nhưng vẫn còn sáng lên những tia nắng rực rỡ... Vẻ mặt cô điềm tĩnh, nhưng người xem vẫn cảm nhận được những xao xuyến trong lòng cô. Một bức khác, vẽ những cô gái đi chơi Xuân. Hoa nở khắp nơi, hoa nở chung quanh các cô. Hàng cây bên đường cũng sáng lên như nở hoa. Vẫn những cô gái mới lớn nhưng trông các cô vui và bối rối, như đang túm tụm, quính quíu với nhau. Người xem cứ tưởng vì mình ngắm các cô trong tranh khiến các cô mắc cỡ nhưng vui thích. Một bức khác, vẽ một cô đi học, mắt nhìn thẳng, vẻ tự tin và “xem thường bọn con trai.”

Bạn có khi nào ra Huế và đứng ngắm các cô nữ sinh Đồng Khánh đi học về chưa? Nếu bạn gặp các cô về trên con đường nhỏ trong thành nội thì càng thú vị. Nên thơ vô cùng! Nhưng dù gặp bất cứ ở đâu, cũng chẳng có cô nào thèm nhìn bạn. Có điều bạn không ngờ, chỉ một cái liếc mắt, dáng người, vẻ mặt, cử chỉ bạn đã được các cô nhận biết rất rõ ràng, tỉ mỉ. Các cô còn biết bạn nhìn cô nào nhiều nhất nữa. Nhưng tuyệt đối, không có cách nào, bạn gợi chuyện mà các cô trả lời. Vì hễ trả lời là các cô bị dư luận đàm tiếu ngay. Ở Huế, hàng cây bên lối đi, ghế đá công viên, đèn đường buổi tối, bờ sông lộng gió... Chúng như có mắt, có tai. Cô nào gặp ai ở đó, nói gì, làm gì, tức khắc, chúng kêu lên và cả thành phố đều biết!

Các cô uất ức lắm, chỉ muốn phá vỡ, đạp tung ra, nhưng không được. Vậy là các cô làm cách mạng trong văn, thơ. Những chuyện tình nóng bỏng, những giao tiếp nam nữ nồng nàn, cuồng nhiệt... Các cô tung hê, rên rỉ, chửi rủa. Và chửi rủa thẳng vào cái nề nếp cổ hủ, khắt khe, lạc hậu của dư luận xứ Huế. Đa số các nữ sĩ nổi tiếng đều là người Huế. Có một cách giải thoát nữa là các cô theo gia đình ra khỏi Huế. Lúc đó các cô như chim sổ lồng. Các cô vui tươi, thảnh thơi, thoải mái. Các cô cùng bạn bè thả rễu trên đường phố, liếng thoắng cười nói, cãi vã, sà vào hàng quà rong, chép miệng, hít hà vì cay, vì ngon, chẳng thèm nhìn chừng chung quanh như lúc còn ở Huế. Trong sân trường, các cô chạy nhảy, đuổi bắt nhau rồi đốp chát, cả đến chọc ghẹo các bạn trai. Thời còn trung học, ở trong Nam, lớp bạn có cô nào người Huế không? Thật tuyệt vời! Cả lớp như hân hạnh có được cô bạn tiểu thư đến học chung. Bạn vào lớp mà lòng cứ háo hức, muốn nổi bật trước người đẹp, nhất là khi được cô ta chuyện trò với bạn bằng thứ tiếng Huế pha giọng miền Nam, thì tim cứ mềm nhũn ra! Giọng cô vừa thánh thót vừa ngập ngừng như nũng nịu. Nũng nịu vì biết bạn bè, cả bạn gái nữa, thương yêu, nuông chìu.

Làm việc ở Huế, tôi thường lảng vảng trước nhà cô bé ngày xưa đã cho tôi mượn chiếc chiếu, trên đường Trần Hưng Đạo, nhưng hình như nhà đã đổi chủ. Không thấy cô nhưng hễ đi ngang qua là tôi vẫn dòm chừng, vừa hi vọng vừa buồn vẩn vơ. Tôi được biết họa sĩ Đinh Cường cũng ở Huế, ông dạy hội họa ở trường Mỹ Thuật và các trường trung học Đồng Khánh, Quốc Học, Thành Nội (Hèn chi ông vẽ các cô nữ sinh Đồng Khánh hay quá!), nhưng tôi không quan tâm đến ông, chỉ chờ ông triển lãm tranh để đi xem mà thôi. Vả lại, tôi không phải văn nghệ sĩ, tiếp xúc với họ, mình thành lạc lõng ngay.

Chuyện gặp gỡ sau đây, bạn sẽ thấy các ông văn nghệ sĩ, càng tài hoa càng không giống “người phàm” chút nào. Một buổi tối, có người bạn đánh xe đến rủ tôi vào đại nội thăm họa sĩ Đinh Cường. Xe chạy qua cửa Hiển Nhơn, vào các con đường hẹp, lát đá, hai bên là tường cao, cây cối um tùm, đèn đường tù mù, vàng vọt. Đại nội tức hoàng cung là nơi gia đình nhà vua ở và làm việc, nay bỏ hoang. Ban ngày, vào đại nội đã thấy vắng vẻ, ban đêm lại càng âm u như cảnh liêu trai, người lẫn lộn với hồn ma, bóng quế.

Nhà họa sĩ Đinh Cường ở cạnh trường Mỹ Thuật Huế, trước đây là văn phòng của hoàng đế Bảo Đại khi ngài còn làm Quốc Trưởng. Khi chúng tôi xuống xe, đã thấy trước sân nhà ông mấy vị ngồi quanh một cái bàn nhỏ, tay cầm một ly rựơu, im lặng như mấy pho tượng. Bạn tôi giới thiệu tôi với họ, thấy họ chỉ gục gặt đầu thay lời chào. Tôi cũng làm như vậy cho hợp cách. Tôi được biết đó là những họa sĩ Văn Đen, Mai Chửng, Hiếu Đệ, Bửu Chỉ, Trịnh Cung... và một số nhà văn nổi tiếng từ Sài Gòn ra. Rồi ông Đinh Cường từ trong nhà đi ra. Ông rót cho chúng tôi ly rượu, tôi cũng cầm và ngồi xuống như họ. Ngồi một lát, tôi chán đòi về. Lúc đó ông Đinh Cường mới nhờ tôi sáng mai, chủ nhật, đưa giùm mấy người bạn từ Sài Gòn ra, đi xem lăng tẩm, chùa chiền. Tôi nhận lời nhưng báo trước là xe tôi tệ lắm, sợ mất uy tín mấy ông mà thôi. Nguyên nhân, khi về nhận nhiệm sở thì không có phương tiện cho ông phó (là tôi) đi công tác. Tay quận trưởng mới lôi chiếc xe jeep phế thải từ thời Thế Chiến thứ hai ra, kêu mấy tay thợ sửa máy cày đến, đục đục, gõ gõ, lui cui mấy ngày thì xe nổ máy, nhưng cái trần thì mục rã, thành một lỗ trống hoác phía trên.

Sáng hôm sau, khi tôi đưa chiếc xe cà tàng đó đến thì các ông đứng sẵn ở đấy cứ trố mắt ra mà trầm trồ, suýt soa, coi bộ khoái chí lắm. Khi xe chạy, các ông chen nhau đứng lên, thò đầu qua cái trần xe thủng, nhìn phố xá, nói cười hí hửng như trẻ con. Thiên hạ đi đường nhìn các ông mà kinh ngạc. Cả đến ông cảnh sát chỉ đường trước ty thông tin cũng đứng nhìn sững, quên cả nhiệm vụ. Nhưng khi xe ra ngoại ô, đến chùa Từ Hiếu thì các ông trở lại yên lặng. Mỗi ông đứng riêng một góc. Ông thì nhìn vô chùa, ông thì ngóng ra đồi thông, ông lại quay ra mấy cái mả... Chẳng biết các ông suy nghĩ gì mà không nói với nhau tiếng nào?! Tôi chán nhưng cũng đành ngồi ngáp gió, chờ các ông chứ không bỏ về được. Xem thế đủ biết các ông văn nghệ sĩ không giống ai. Nhưng cũng có nhiều người lại thích giao thiệp với họ, kiểu dựa hơi để kiếm chút thơm lây. Giống như tên đánh xe cho quan tể tướng ngày xưa bên Tàu vậy. Người ta chào quan tể tướng mà tên đánh xe tưởng chào hắn, mặt cứ vênh lên. Thì chính tôi cũng là tên đánh xe, cũng đang khoe nhặng lên đây nè!

Nữa, lại lạc đề rồi! Xin lỗi, tôi xin trở lại chuyện tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường. Năm 75, sập tiệm. Tôi đi tù rồi đi HO qua Mỹ. Xui khiến sao tôi và họa sĩ Đinh Cường ở cùng tiểu bang Virginia nhà cũng gần nhau. Ông không nhớ ra tôi nhưng tôi thì nhận ra ông ngay vì ông trông giống hình ông tổng thống Mỹ trong tờ trăm đô la.

Tôi xin phép được đến nhà ông để xem tranh. Tranh ông bây giờ tuyệt vời hơn trước, từ bố cục, đường nét đến màu sắc. Nhất là màu sắc, ông đi màu như ông đã “ngộ” với màu, chìm đắm, hòa nhập với màu vào tranh. Ông vẽ tranh bằng cái tâm, cái hồn của ông chứ không bằng tay, bằng cọ... khiến người xem rung động, hạnh phúc... Nhiều nhà văn, nhà thơ hải ngoại ra sách đều nhờ ông cái tranh bìa. Thơ, truyện có hay có dở, nhưng rủi mua nhằm sách dở thì cái tranh bìa Đinh Cường cũng an ủi rất nhiều. Cái bìa lộng lẫy, sang trọng đã đáng tiền rồi. Có lần nghe đài RFI (Pháp) phỏng vấn, ông bảo có chịu ảnh hưởng của họa sĩ Modigliani, nhất là về tranh thiếu nữ, nhưng tôi vẫn thấy tranh ông có những nét độc đáo, rất Việt Nam, rất Huế. Hình như ông đang mở ra một hướng mới cho tranh ông. Có những bức tranh, phải vừa thưởng thức vừa suy tư để tìm xem nhân vật trong tranh đang nghĩ gì, và sẽ làm gì?... Tuyệt vời nhất là tranh khỏa thân. Chỉ vài đường cọ, tất cả hiện nguyên một cô gái. Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên. Nhưng trông cô ngây thơ, hoang dã và thánh thiện đến độ người xem không thấy ham muốn gì khác hơn là ao ước được ôm hôn lên và cảm thấy mình cũng thánh thiện như cô.

Tôi nhớ cô bé ngày xưa, nhớ tranh thiếu nữ của ông quá! Tôi đến để tìm xem, nhưng ông không còn vẽ các cô gái mới lớn nữa mà ông vẽ các cô đã trưởng thành, nẩy nở toàn vẹn, giống như tranh phụ nữ vài thế kỷ trước. Nhưng tranh cổ điển quá khêu gợi, quá dung tục. Tranh ông kín đáo hơn. Chỉ để lộ một phần quần trắng ở chỗ mông tròn lẳn, thơm tho, như mời gọi, mà tà áo dài không che hết được. Vẻ mặt cô gái như trầm ngâm, suy tư... Tôi nghĩ đến cô bé ngày xưa đã cho tôi mượn chiếc chiếu, bây giờ có lẽ cô cũng đã lớn như thế. Nhưng hiện nay cô ta ra sao? Cô ta ở đâu? Cô đâu có ngờ rằng, một lần cô vô tình nhìn tôi cười mà tôi nhớ đến cô mãi.

Họa sĩ Đinh Cường không còn vẽ tranh thiếu nữ tuổi mới lớn nữa. Ông đã để tất cả những cô bé mới lớn đó và cả những mơ mộng, nhớ nhung vẩn vơ của tôi ở lại bên kia bờ đại dương xa xôi.

Phạm Thành Châu

[ Đọc Tiếp ]

Ngày 27 tháng 07 năm 2014

Sang Đâu Mẫm Đó!


“Sông có thể cạn, núi có thể mòn…, nhưng tình đồng chí Sang-Mẫm không bao giờ thay đổi”.

Những năm tháng gần đây, đồng bào ở quốc nọi đã thấy có một “cặp đôi ăn ý nhất”. Cặp đôi đó, là Trương Tấn Sang - Huỳnh Tấn Mẫm. Cặp đôi này như hình với bóng, đi đâu cũng có nhau, nơi nào có Sang thì có Mẫm. Trong những lần đi đôi với nhau, lúc nào Huỳnh Tấn Mẫm cũng tươi cười tít mắt.

Ấy vậy, mà có kẻ dám trù ẻo cặp đôi Sang-Mẫm bằng những lời xuyên tạc là Huỳnh Tấn Mẫm “chống cộng”, mà chẳng sợ Mẫm-Sang sẽ buồn, vì người ngoài dám chia rẽ “tình đồng chí keo sơn” của cặp đôi “sáng giá” này, thế mới biết người đời không biết ý tứ gì cả, nên mới dám nói bừa, cãi bậy, chớ thật tình cặp đôi Sang-Mẫm đang vui vẻ lắm. Hãy nhìn kỹ những tấm hình này đi, rồi sẽ thấy.

Mẫm siết chặt tay Sang để kỷ niệm thành tích lịch sử của ĐCSVN
Mẫm tháp tùng Sang đi "gặp cử tri" Sài Gòn ngày 26-6-2014


Không biết cặp mắt của những người này, có còn con ngươi, và bộ óc có còn minh mẫn hay không, mà cứ đi nói những điều không đúng với sự thật, vì tự nhiên lại dựng lên câu chuyện Huỳnh Tấn Mẫm “chống cộng”. Mà Cộng sản là ai, là chính là cặp đôi Huỳnh Tấn Mẫm –Trương Tấn Sang, chứ còn ai nữa. Ngay cả trong cái “Tâm thư…” của Mẫm, Mẫm vẫn viết chữ “Ta kiện thì… chúng ta có chính nghĩa…”. Cái chúng ta của Huỳnh Tấn Mẫm có nghĩa là đảng Cộng sản, mà chính Mẫm là đảng viên từ thời còn học sinh, lúc hắn mới 15 tuổi kìa, nên mới được đi, đứng, bắt tay ngang bằng với dzua Trương Tấn Sang, chớ chẳng phải loại Cộng sản tầm thường đâu. Nhưng biết đâu, rồi có ngày cái “Tâm thư…” của Huỳnh Tấn Mẫm cũng sẽ giống như cái “Tâm tình…” của Nguyễn Hộ, mà có thời người ta đã xúm nhau tranh giành, tung hô “cụ” Nguyễn Hộ làm “minh chủ”.

Thật đáng thương hại, đáng tội nghiệp cho những người mang danh là đấu tranh, mà đến già đầu cũng chỉ biết bám vào cái đuôi của những tên đảng viên Cộng sản tay dính đầy máu của đồng bào vô tội. Mà lạ thiệt, hễ những tên Cộng sản nào càng già, càng nhiều tuổi đảng, tay dính càng nhiều máu của đồng bào, thì những người tranh đấu này lại càng tung hô dữ dội. Họ tung hô từ Nguyễn Hộ… cho tới Hồ Ngọc Nhuận, Lê Hiếu Đằng, và hiện nay thì tung hô Huỳnh Tấn Mẫm một “đồng chí” cật ruột của Trương Tấn Sang.

Phan Nhân tôi, biết viết ra chuyện này, sẽ khiến cho các nhà tranh đấu… cùng chiến tuyến với Trương Tấn Sang và Huỳnh Tấn Mẫm sẽ buồn, có khi phản đối, hay “chửi” nữa; nhưng cũng đành chịu, chớ nhất định không thể ngồi yên làm thinh cho đặng.

Mà cũng lạ thiệt, vì những kẻ tung hô những tay Cộng sản khét tiếng, đa số lại là những người từng là công dân của nước Việt Nam Cộng Hòa. Họ đã từng biết tới những màn giết người bằng nhiều cách khác nhau, vô cùng man rợ của Việt cộng trong hơn hai mươi năm xâm lăng, rồi cưỡng chiếm đất nước Việt Nam Cộng Hòa. Những tội ác đẫm máu đó, muôn đời không làm sao phai mờ trong tâm trí của người dân cũng như trong dòng sử Việt!

Tội ác, là tội ác, không có một kẻ nào có thể chạy tội, dù cố tình ngụy biện cho những tên cộng sản như Trương Tấn Sang-Huỳnh Tấn Mẫm.

Lịch sử sẽ ghi thêm những tên tự nguyện làm tay sai cho đảng Cộng sản, để muôn đời họ sẽ bị nguyền rủa, vì đã đem thâm làm tôi mọi cho giặc cộng Trương Tấn Sang-Huỳnh Tấn Mẫm.

Các người muốn bênh vực, muốn hoạt động Cộng sản cùng Trương Tấn Sang-Huỳnh Tấn Mẫm, thì cứ tự nhiên nhập đoàn với cặp đôi ăn ý này; nhưng khi lên tiếng bênh vực, biện minh cho Trương Tấn Sang-Huỳnh Tấn Mẫm, thì đã lộ diện cho mọi người thấy rằng: Chính họ là người của Trương Tấn Sang và Huỳnh Tấn Mẫm!

Phan Trần
[ Đọc Tiếp ]

Ngày 25 tháng 07 năm 2014

Triết gia Trần Đức Thảo, một trường hợp phá sản về trí tuệ

Với thế hệ hậu sinh như thế hệ chúng tôi, cái tên Trần Đức Thảo khá xa lạ, nhất là khi cái tên đó gắn liền với một danh từ đặc biệt: Triết gia. Sỡ dĩ dư luận lại được dịp nhắc đến ông Trần Đức Thảo là vì tác phẩm “Trần Đức Thảo - Những lời trăng trối” vừa được Tổ hợp Xuất bản Miền Đông Hoa Kỳ cho xuất hành. Tác giả là nhà báo Tri Vũ Phan Ngọc Khuê, một người Hà Nội du học ở Pháp, cùng giáo sư toán học Bùi Doãn Khanh viết lại những gì họ đã thâu băng những câu hỏi của họ và những câu trả lời của ông Trần Đức Thảo trong 6 tháng cuối cùng khi ông sống ở Pháp. Nó ghi lại những suy nghĩ chân thực của ông về 40 năm từ khi ông tình nguyện trở về Việt Nam.

Theo Wikipedia, ông Trần Đức Thảo sinh ngày 26/9/1917, tại Thái Bình, mất ngày 24/4/1993 tại Paris, quê quán tại làng Song Tháp, Châu Khê, Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 1936, ông được nhận học bổng sang Paris, Pháp để thi vào trường École normale supérieure (Paris). Ông đậu thủ khoa bằng Thạc sĩ triết học (Agrégation de Philosophie, tại Pháp, đây là một học vị chuyên môn trên tiến sĩ, dành cho những tiến sĩ muốn làm giáo sư đại học), lúc mới 26 tuổi (1942). Năm 1952 ông về nước tham gia cuộc kháng chiến chống Pháp. Năm 1955, ông trở thành giáo sư Triết học và là Phó Giám đốc Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội).

Sau một thời gian ngắn, ông bị chính quyền buộc tội vì dính dáng đến nhóm “văn nghệ sĩ phản động” Nhân Văn Giai Phẩm. Ông bị cách chức, cấm giảng dạy và bị giam lỏng gần như là cách ly hoàn toàn với mọi người xung quanh. Năm 1991 ông được nhà nước cho sang Pháp chữa bệnh và nghiên cứu khoa học. Ông mất hai năm sau đó. Đám tang ông được tổ chức rất trọng thể tại Hà Nội và năm 2000 ông được truy tặng “Giải thưởng Hồ Chí Minh” về khoa học xã hội.

Cũng như Nguyễn Mạnh Tường, ông Trần Đức Thảo là một hiện tượng đặc biệt của giới trí thức Việt Nam thời Pháp thuộc. Ông được học triết ở một trường triết hay nhất nước Pháp (và cả thế giới) về Triết: trường Normale Sup. Triết là môn học đào sâu lý luận để cố gắng kết luận một cách chính xác. Ông làm luận án tiến sĩ về môn “hiện tượng luận” (phénoménologie), bộ môn của triết ngờ vực tất cả và đòi hỏi sự thận trọng tối đa trong lý luận. Vậy mà ông Trần Đức Thảo lại có thể say mê Karl Marx, và trở thành người cổ vũ cho cho một tư tưởng hồ đồ và độc hại là chủ nghĩa Marx.

Một triết gia đương đại của Việt Nam là ông Bùi Văn Nam Sơn nhận xét rất đúng về Trần Đức Thảo:
“Đó là một trong những người Việt hiếm hoi được học hành đến nơi đến chốn về triết học và cho thấy người Việt mình cũng có thể tiếp cận rất gần với triết học thế giới. Đi cụ thể vào tư tưởng, thành tựu của Trần Đức Thảo thì khác. Có lẽ do bối cảnh đặc thù, không có điều kiện tiếp thu với bên ngoài cộng hưởng nhiều yếu tố dị biệt của thời cuộc đã khiến cho Trần Đức Thảo không còn thấy những chân trời của cụ. Cụ không còn mở cửa đối thoại mà tự giao cho mình trách nhiệm phòng vệ: bảo vệ cái có sẵn, cái gì xa lạ là bác bỏ thay vì tiếp thu cái mới để có thể phê phán hay không đồng ý nhưng sẽ phát triển. Mà điều này không đúng với tinh thần của một triết gia. Triết gia là phải tranh luận để tiếp tục, để mở thêm những chân trời chứ không phải để khép lại các chân trời. Không ai dám phủ nhận chất lượng triết học của bản thân Trần Đức Thảo, nhưng đáng tiếc, có thể nói Trần Đức Thảo là tù nhân của bản thân”.
Cuộc đời của triết gia Trần Đức Thảo quả là bi thương. Gần như suốt trong 40 năm sau ngày trở về nước “phục vụ cách mạng”, hình ảnh của ông là “…lôi thôi nhếch nhác quá mấy anh công nhân móc cống. Mùa rét thì áo bông sù sụ, mùa nực thì bà ba nâu bạc phếch, quần ống cao ống thấp, chân dép cao su đứt quai, đầu mũ lá sùm sụp, cưỡi cái xe đạp “Pơ-giô con vịt” mà mấy bà đồng nát cũng chê. Thật đúng như anh hề làm xiếc! Mặt cứ vác lên trời, đạp xe thỉnh thoảng lại tủm tỉm cười một mình, một anh dở người…” Phùng Quán (chuyện vui về triết gia Trần Đức Thảo).

Chuyện gì đã xảy ra với một trí thức lớn như vậy? Theo cách giải thích thông thường của người đời và những người yêu mến ông là do ông có hiểu biết rộng nên ông đã không đồng tình với nhiều quan điểm của đảng cộng sản. Ông cũng đã viết và công bố ít nhất hai bài báo về tư tưởng tự do và dân chủ… Chính vì thế mà đảng cộng sản trả thù ông, hành hạ ông như đã từng làm với bao nhiêu người bất đồng chính kiến khác, từ xưa đến nay. Tuy nhiên có câu hỏi đặt ra là: “Tại sao có những người giỏi như vậy mà lại trao duyên lầm tướng cướp”?

Nhân buổi trao đổi về triết gia Trần Đức Thảo, một ý kiến trong Tập Hợp cho rằng:
"Ai cũng có sai lầm, nhưng tại sao các ông đại trí thức mà lại có thể sai lầm về cộng sản hơn cả đám dân đen đến như vậy? Nếu các ông trí thức này vẫn kiên trì đi theo cộng sản cho tới khi các ông xuống lỗ, thì mọi người sẽ ít ngạc nhiên hơn, vì cho là các ông sai lầm. Thế nhưng, những ông “trí” này, vào một lúc nào đó, thường là về cuối cuộc đời, các ông bỗng hô lên là các ông bậy, các ông lầm, cộng sản là xấu, là sai...! Có khác nào các ông tự chửi lại chính mình? Thì ra cái gọi là “trí thức” lại không "trí” gì cả, và mấy cái giấy gọi là bằng cấp dường như chẳng thể dùng để đo sự hiểu biết của các ông “đại trí”. Như vậy, có lẽ các ông không ngu đến cỡ đó, và ngoài cái “ngu trí thức”, các ông "trí " này, lúc còn phong độ, ắt có sự “mót” chút công danh. Các vị này đi theo cái ác, để mưu cầu danh vọng. Nếu đúng như thế, thì các ông như quý ông Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trương Như Tảng, Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát... và các quý bà như Dương Quỳnh Hoa, Ngô Bá Thành... khó có thể nhận được sự tôn trọng của người đời…”.
Những vị này có bằng cấp cao nhưng không có nghĩa là họ giỏi. Bằng cấp, kể cả bằng tiến sĩ, đều chỉ cho ta những căn bản để học hỏi tiếp. Cũng có thể những người này do dấn thân quá sớm vào đảng cộng sản rồi bị giữ chặt không thoát ra được và cũng không có phương tiện để học hỏi thêm nữa. Ông Trần Đức Thảo đã có điều kiện lý tưởng để học triết một cách nghiêm chỉnh thế nhưng ông lại cổ vũ và đi theo chủ nghĩa Mac-Lênin. Đây quả là một “trường hợp phá sản trí tuệ không thể tha thứ”, vì:
“Sự sai trái và độc hại của chủ nghĩa Mác-Lênin không khó nhìn thấy và nhiều nhà bình luận đã thấy ngay từ đầu và đã vạch ra một cách rất rõ ràng. Tuy vậy cho đến thập niên 1970 nó vẫn lôi kéo được một số đông người, kể cả một số trí thức xuất sắc. Lý do là vì vấn đề mà nó nêu ra cũng là vấn đề mà lương tâm con người đặt ra từ rất lâu mà vẫn chưa có giải đáp, đó là bất công xã hội và chênh lệch giàu nghèo. Kể từ khi bắt đầu văn minh, thế giới luôn luôn phải sống trong một mâu thuẫn nhức nhối giữa những tư tưởng quảng đại coi mọi người là anh em và một tổ chức xã hội phân biệt chủ và tớ. Và thời nào cũng có những người ao ước xóa bỏ mâu thuẫn nhức nhối đó. Trong nhiều trường hợp chính lòng quảng đại đã khiến người ta tiếp tay cho tội ác. Chủ nghĩa Marx là một giải pháp sai và độc hại nhưng vấn đề nó đặt ra có thực. Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ là sự vận dụng tư tưởng của Marx cho mục tiêu cướp và giữ chính quyền bằng bạo lực và khủng bố”. (Nguyễn Gia Kiểng - Nhìn lại chủ nghĩa Mác-Lênin)
Đến đây, thiết nghĩ cần nhắc lại một định luật nổi tiếng “2 trong 3”: Lương thiện, Hiểu biết và Cộng sản. Trong ba thứ đấy luôn luôn chỉ có hai thứ là đi được với nhau. Vậy trường hợp ông Trần Đức Thảo là ngoại lệ chăng? Khi ông vừa “có hiểu biết, lương thiện và lại là cộng sản”. Rõ ràng là ông Trần Đức Thảo tự nguyện về Việt Nam để chống Pháp và kể cả sau khi bị bạc đãi ông vẫn chấp nhận cuộc sống khốn khổ đó mà không hề có ý định thoát thân. Năm 1985 khi sang Đức chữa bệnh và làm việc ông có thể xin tị nạn nếu muốn. Sau này khi qua Pháp định cư năm 1991 ông vẫn ở trong nhà khách sứ quán chứ không thoát hẳn ra bên ngoài, một việc ông có thể làm được nếu muốn. Ngay cả trong hai năm cuối đời đó ông cũng không viết được gì. Tác phẩm Trần Đức Thảo-những lời trăng trối là cũng do bạn hữu ông bí mật ghi lại trong các buổi trò chuyện với ông. Ngay cả lý do khiến ông bị thất sủng cũng có thể vì một lý do khác, đôi khi chỉ vì những người cộng sản lãnh đạo ghen tỵ với bằng cấp của ông nên trù dập ông chứ không phải vì ông chống đối họ.

Nếu có ai đó vẫn cho rằng ông Trần Đức Thảo là người cộng sản lương thiện và hiểu biết thì quả thực đây là một trường hợp phá sản hoàn toàn của trí tuệ Việt. Chúng ta có thể tha thứ được cho Lê Đức Anh hay Đỗ Mười vì họ xuất thân rất tầm thường và không có điều kiện ăn học đến nơi đến chốn nhưng không thể tha thứ cho một người có điều kiện lý tưởng để học triết một cách nghiêm chỉnh như Trần Đức Thảo.

Nếu có ai đó vẫn cho rằng ông Trần Đức Thảo là người cộng sản lương thiện và hiểu biết thì quả thực đây là một trường hợp phá sản hoàn toàn của trí tuệ Việt. Chúng ta có thể tha thứ được cho Lê Đức Anh hay Đỗ Mười vì họ xuất thân rất tầm thường và không có điều kiện ăn học đến nơi đến chốn nhưng không thể tha thứ cho một người có điều kiện lý tưởng để học triết một cách nghiêm chỉnh như Trần Đức Thảo. Nếu trí thức Châu Âu cũng hồ đồ (khi chọn chủ nghĩa Marx) như ông thì thử hỏi thế giới sẽ đi về đâu?

Giải thích cho hiện tượng này chỉ còn cách duy nhất, đó là do văn hóa Khổng Giáo đã ăn sâu vào não trạng trí thức Việt hàng ngàn năm nay và vẫn chưa gột rửa được: Trí thức Việt Nam sinh ra là để phục vụ (làm tôi tớ) thay vì (làm) trí thức lãnh đạo. Để Việt Nam sớm có dân chủ thì chúng ta không nên dành nhiều thời gian và quan tâm cho những trường hợp như triết gia Trần Đức Thảo. Họ có bằng cấp cao, nổi tiếng học giỏi và chịu đựng sự hành hạ của cộng sản… nhưng thử hỏi họ đã làm được gì cho nền dân chủ của Việt Nam? Cho sự tiến bộ của xã hội?

Hãy dành sự quan tâm thích đáng và cần thiết cho những người đang dấn thân ngày hôm nay. Nhất là những người đã dứt bỏ được di sản của văn hóa Khổng giáo, những người thay vì tìm kiếm sự nổi tiếng cho bản thân đã can đảm tìm đến với nhau, tập hợp lại với nhau để đi tìm một mô hình chính trị mới cho dân tộc bằng sự kiên nhẫn và thuyết phục để có được sự đồng thuận chung, trên những vấn đề chung của đất nước và của tất cả mọi người Việt Nam.

Việt Hoàng

[ Đọc Tiếp ]

Ngày 24 tháng 07 năm 2014

Giòng Sông Bến Hải Vẫn Còn








Ngày 20 tháng 7 năm 1954, đất nước VN đã bị chia đôi tại vĩ tuyến 17 theo hiệp định Genève do Pháp và Việt Minh ký kết với nhau. Sau biến cố đau thương tháng Tư 1975, dĩ nhiên, theo con mắt bình thường xem như giòng sông Bến hải chia đôi bờ Nam-Bắc Việt Nam không còn nữa. Đảng CSVN từng vỗ ngực tự hào có công "thống nhất tổ quốc VN" thế nhưng, những sự thực trân tráo và phũ phàng của hiện trạng đau thương đủ mọi mặt của quê mẹ Việt Nam đang quằn quại rên xiết dưới bàn tay cai trị độc tài của cái đảng tham tàn CSVN đã và đang dẫn đưa dãi đất hình chữ S thân yêu của con dân nước Việt tới bờ mất nước! 

Trong những biến thái đau khổ chung của dân tộc có nhũng hố sâu ngăn cách, "Giòng Bến Hải" vẫn còn đó, dù vô hình cho đất nước chúng ta khi còn bóng cái đảng bán nước hại dân CSVN mà tên quốc tặc Hồ Chí Minh đã đưa đường dẫn lối về tàn hại dân mình.

Xuân Khê xin mạn phép ghi lại một hồi ức vào ngày 20 tháng 7:

Ngày 20 tháng 7 năm 1954 của 60 năm về trước, đất nước VN chia đôi và từ đó giòng sông Bến Hải quê tôi trở thành một địa danh lịch sử.

Quá khứ chập chùng đưa tôi về lại hinh ảnh ngày xưa, những ngày còn bé một thuở tạm gọi thanh bình dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa của Cố TT Ngô Đình Diệm cứ mỗi năm dịp kỷ niệm 20 tháng 7 đất nước chia đôi, tôi khi đó chỉ là một thằng bé được cả nhà đưa ra quận Trung Lương cùng đồng bào Quảng Trị làm lễ Mít-ting kỷ niệm ngày chia đôi đất nước lần 5, lần 6 gì đó.

Hồi đó muốn ra tới Cầu Bến Hải xe phải qua đèo Ba Dốc. Đèo này không cao nhưng muốn xuống đèo xe phải lái rất cẩn thận, xuống được 3 cái dốc rất ngặt nên cũng rất nguy hiểm . Hết đèo là xe có thể ‘bon bon’ chạy trên một đoạn đường thẳng trên một đồng bằng hiếm hoi của quận Trung Lương để đến chân cầu Bến Hải, nơi này có trụ sở kiểm soát đình chiến kết hợp cảnh sát Trung Lương làm việc ở đây.

Tôi nhớ rõ nhất là hai lá cờ to lớn có thể là ‘vĩ đại’ nhất trong trí nhớ của tôi, dĩ nhiên cờ vàng ba sọc đỏ bên "miềng" (tiếng gọi "mình" của dân Quảng Trị chúng tôi) và cờ đỏ sao vàng bên "tê" (kia) . Hai là cờ to lớn theo trí nhớ của tôi thì nó có thể phủ kín một cái nhà một cách dễ dàng. Cái cầu cũng bị chia đôi, mỗi bên mỗi màu và sơn đúng một nửa bên mình thì màu xanh. Nhân viên 2 phía đi lui đi tới trên cầu thỉnh thoảng đi qua mặt nhau cũng đôi lúc cả 2 cùng nói gì đó và cùng ngó xuống mặt nước sông Hiền Lương. Bề mặt của chiếc cầu rất hẹp và nó chẳng cần chi cho chuyện xe cộ, mà để trao đổi nhân viên 2 miền qua lại làm việc hàng ngày. Gia đình tôi còn kể rằng mỗi ngày cảnh sát quận Trung Lương cũng qua làm việc bên kia, và đổi lại bên kia cũng có một người qua ‘làm việc’ bên mình. Văn phòng làm việc của mỗi bên đều gần sát cầu, kế cột cờ mà là cờ Vàng đang phất phới bay theo gió.

Đến giờ hành lễ, đồng bào tới sát cầu, mặt hướng về bờ sông bên kia, tai thì nghe ban tổ chức đọc diễn văn và cáo trạng cộng sản miền Bắc đang đày đọa đồng bào ruột thịt miền Bắc, khi họ cố tâm xây dựng cho được chủ nghĩa xã hội và áp đặt lý thuyết cộng sản lên đầu dân chúng miền Bắc. Xen kẽ còn có những bài hát đề cao tự do no ấm của miền Nam như "Khúc hát thanh bình", "Chuyến đò vĩ tuyến", "Nắng đẹp miền Nam…"

Lúc này phía bên kia đâu có chịu yên, họ đem một đội quân nhạc bận complet trắng, cùng hướng về bờ Nam hợp tấu những bài “hùng ca” gì đó nhưng phía bên mình ồn quá làm sao nghe được, hơn nữa họ chỉ muốn phá đám buổi lễ của đồng bào mình mà thôi.

Bỗng có những tiếng la hét và một đám đông đồng bào hốt hoảng chạy ngược lùi lại phía sau, và những hoảng loạn đó lan truyền rất nhanh làm tôi cũng chạy mất luôn đôi dép "nhựa" (hồi đó ít ai mà có giày). Sau đó mới vỡ lẽ là một "ông cán bộ VC" đang trực trên cầu vô ý vứt tàn thuốc xuống một đám cỏ khô bên cầu, có gió nó bắt lửa lên khói làm đồng bào hoảng sợ tưởng chuyện gì. Những đám đông khác thấy chạy thì cứ chạy nên hoảng loạn mới lan nhanh như thế .

Tội nghiệp mấy chú cảnh sát Trung Lương vất vả giải thích một hồi lâu, thì đồng bào mình mới yên tâm. Hết lễ, bà con chia thành từng tốp nhỏ đi theo men sông để ngắm phía "bên tê".

Trí nhớ của tôi còn ghi lại một giòng sông nhỏ bé, nước lặng lờ trôi. Bên tê sông hình dáng những người dân miền Bắc kham khổ chịu đựng, những cánh áo nâu khom khom người "lùng sục" dưới đáy sông kiếm từng con cá; hay những chiếc thuyền nan bé tí teo, những chiếc nón lá chỉ biết im lăng, câm nín cúi đầu với công việc kiếm ăn. Họ im lìm tuyệt đối không có một cử chỉ tò mò gì khi bên này sông, đồng bào mình đang đi như trẩy hội. Bên kia sông chỉ một khoảng cách ngắn ngủi mà thôi, thế mà đồng bào bờ Bắc như không thấy không nghe, không dám ngẫng đầu nhìn. Một sức mạnh vô hình đang bắt họ phải điếc, phải mù. Ôi! gớm ghiếc thay bạo quyền Cộng sản, một sức mạnh khủng bố mà tôi đã cảm nhận ra ngay, dù lúc đó còn bé xíu.

Men theo bờ Hiền Lương, cứ cách chừng một cây số mỗi bên bờ đều có một trụ phát thanh, mỗi trụ gắn khoảng gần 20 cái loa đều mở hết "volume" hướng về bờ kia để phát thanh cùng ca nhạc tuyên truyền cho chế độ mình . Bên nào cũng mở hết cỡ âm thanh làm huyên náo cả một vùng, khiến tôi quên cả sợ hãi phập phồng. Hình như tôi cũng biết sợ bị Việt Cộng bắt qua phía bên kia thì phải, kiểm soát lại ký ức của tôi ngay từ thuở bé xíu cũng tâm trạng chung đồng bào phía Nam nghe hai chữ Việt Cộng thì sợ lắm.

Qua năm sau, cũng dịp này lần này tôi có dịp đi ra phía Cửa Tùng, cửa sông Hiền Lương. Cửa Tùng dáng vẻ đìu hiu buồn bả vô cùng. Bên “tê” chỉ lác đác vài ba cái thúng của dân đánh cá miền Bắc, không có dân. Còn phía bờ Nam cửa Tùng thì tuyệt đối đồng bào mình không có làm ăn ở đây. Sau này tôi có thể hiểu rằng, bên kia tuy đóng vai dân chài làm ăn vậy nhưng toàn là cán bộ Việt Cộng ngụy trang cả mà thôi .

Rồi chiến sự leo thang, cường độ cuộc chiến càng ngày càng ác liệt. Những năm sau 1960, Trung Lương càng ngày càng hoang vắng, cộng sản miền Bắc xé hiệp định Geneve tăng quân ngang nhiên xâm lăng miền Nam. Trung Lương và Ủy Ban Kiểm Soát Đình Chiến bất lực, quận Trung Lương xoá sổ, 1967 toàn bộ dân Gio Linh di tản hết lên Cam Lộ, vào Nam tái định cư. Tuyến MacNamara ra đời. Chiến tranh không tập miền Bắc gia tăng mức độ cường tập đến cái cống trên trục lộ giao thông miền Bắc. Và chuyện đi chơi dự Mít-ting ở cầu Bến Hải đã thực sự nằm trong dĩ vãng.

60 năm qua, cầu Bến Hải phân chia hai miền Nam Bắc đánh dấu một khúc quanh lịch sử dân Việt tưởng chừng như nó đã là một danh từ trong sử Việt. Thế mà khi nhìn lại những gì đảng CSVN đã di họa cho toàn dân Việt sau 39 năm cưỡng chiếm miền Nam “thống nhất” đất nước chỉ là hố phân cách sâu thăm thẳm giữa khối dân bị trị và một đảng cầm quyền. Đảng CSVN qua máu xương dân tộc đã nghiễm nhiên cướp lấy bộ máy cầm quyền đáng lý là do dân, vì dân và của dân, trái lại cái đảng cướp này dùng bộ máy này để làm một công cụ đàn áp, khống chế và bóc lột dân lành. Rõ ràng "giòng sông Bến Hải" vẫn còn đó ngăn chia giữa dân và kẻ cầm quyền, nó chỉ lấp được khi tá cả đều trở về lại quyền sở hữu của dân tộc Việt Nam, phục vụ cho ý muốn và quyền lợi toàn dân tộc.

"Giòng sông Bến Hải" vẫn còn, khi trong xã hội Việt Nam hố phân chia sâu vời vợi giữa quần chúng lao động nghèo nàn, rách nát, đầu tắt mặt tối làm không đủ ăn. Cái đói, cái nghèo đến mức phải bán máu, và bán máu trớ trêu trở thành một cái nghề nuôi sống cho chính họ và gia đình. Trái lại giai cấp cầm quyền, quý tộc Đỏ thì tiền bạc thừa mứa, giàu nứt đố đổ vách, ăn chơi sa đọa , trụy lạc đến mức tận cùng của trụy lạc, không còn bút mực nào tả xiết. Những thành phố xa hoa một cái "bung tay" cho ticket thưởng “boa’ cho các em “cave” vũ trường hộp đêm, thì số tiền đó các em nhỏ đánh giày, lượm nylon trong những đống rác thành phố hay những ông già kéo xe, đạp xích lô không bao giờ dám mơ tưởng đến. Đó là chưa kể đến các "ông" thái thượng hoàng Cộng Sản Việt Nam, các "ông" cán bộ cấp trung ương thì của chìm của nổi không biết bỏ đâu (chuyện này hỏi ở Hoa Kỳ và Thụy Sĩ ).

Làm sao mà hết "giòng sông Bến Hải" chia đôi hai giai cấp nghèo giàu, khi mà những thảm trạng ở miền Nam có cả chuyện những em gái tuổi còn dưới 10 mà phải bị bán qua Campuchia làm điếm. Hàng trăm ngàn thiếu nữ nông thôn phải "tự nguyện lấy chồng ngoại" rồi trở thành những "đồ chơi" rẻ tiền và lắm lúc phải bỏ xác quê người cũng vì hoàn cảnh nghèo nàn đều đã xảy ra ở khắp chốn nông thôn nước Việt. Còn ... còn nữa, những hố sâu "BẾN HẢI" vẫn hằn sâu trên đất mẹ Việt Nam, khi bạo quyền cộng sản vẫn còn. Hãy nhìn những cụ già đói khát bệnh tật khắp mọi miền đất nước, đảng giàu đảng sang thế mà họ đang ngày ngày chờ lòng hảo tâm của "Việt kiều" hải ngoại động lòng về giúp đỡ cho từng ký gạo từng tấm mền.

Nội tình trong lòng dân Việt vẫn còn một "giòng Bến Hải" khi những tên "cán bộ" từ Bắc vào Nam đem theo gia đình và họ hàng ngang nhiên cướp đất, cướp nhà người dân miền Nam, người sắc tộc Tây nguyên làm giàu phục vụ cho đầy túi tham của chúng. Thế là lòng căm thù miền Bắc càng lúc càng dâng trào chất ngất trong lòng họ, và đã tạo nên lòng ác cảm chung Nam Bắc, đó cũng do chính sách ĂN CƯỚP của đám cầm quyền CSVN là nguyên do to lớn nhất.

Làm sao lấp được một giòng sông khi những tiếng nói đòi hỏi tự do, công lý, dân chủ, nhân quyền hàng ngày bị CSVN dùng bạo lực công an quân đội khống chế, đàn áp, bịt miệng bỏ tù giam giữ ngày đêm trong tù ngục .

Những tập thể trí thức tranh đấu cho người dân thấp cổ bé miệng thì bị lũ côn đồ CSVN trù dập khủng bố ngày đêm, ngăn sông cấm chợ, áp bức trăm bề.

Đối với mấy triệu người dân Việt bỏ xứ ra đi thì "Giòng sông Bến Hải" vẫn mãi mãi còn trong lòng của họ, khi chính sách của CSVN hiện tại vẫn coi "Việt kiều" là con bò sữa vĩ đại, phải "VẮT" cho được khối đô la này, nhưng trong lòng bọn cầm đầu Bắc bộ phủ tại Hà Nội vẫn canh cánh thành kiến là "âm mưu diễn tiến hòa bình" sẵn sàng còng tay bỏ tù những ai về lại Việt Nam không hợp ý chúng. 

"Hai bờ Bến Hải" vẫn còn khi đảng CSVN càng ngày càng trân tráo, ngang ngược, dựa vào thế và lực của Tầu và súng đạn chúng đang có trong tay, nên cứ chà đạp dân quyền và nhân quyền toàn thể dân tộc Việt. Ngày nào tập đoàn của đảng CSVN còn tồn tại, thì đất nước Việt Nam vẫn còn điêu linh, thống khổ. Hoa Dân Chủ Tự Do cho dân Việt chỉ nở khi cái đảng bán nước CSVN bị triệt tiêu, và chỉ ngày đó, "giòng sông BẾN HẢI" mới thực sự được khỏa lấp để cùng hòa ca khúc nhạc tình thương của ba miền đất Việt.

Kha Trần
[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Hương Cảng: Bài Học "Chống Cộng Cực Đoan"
Trong bài diễn văn tiếp nhận quyết định của Đảng Cộng Hòa đề cử mình làm ứng cử viên tổng thống vào năm 1964, Thượng Nghị Sĩ Barry Goldwater đã từng nhắc nhở nhân dân Hoa Kỳ rằng: "Extremism in the defence of liberty is no vice; moderation in the pursuit of justice is no virtue." ("Cực đoan để bảo vệ tự do không phải là tật xấu; ôn hòa trong việc mưu cầu công lý chẳng phải là tính tốt.") Vào thời điểm đó, hiểm họa của làn sóng đỏ đang lan tràn khắp thế giới. Nhưng nhờ vào quyết tâm diệt trừ tận gốc rễ chủ nghĩa cộng sản vô nhân, Liên Xô và các nước Đông Âu đã thoát khỏi ách lầm than...


Vietnam Unadulterated — No Uncle, No Party, No Bullshit
Việt Nam Thuần Khiết — Không Bác, Không Đảng, Không Cứt Bò


 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn