Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Quê em lắm điệu say sưa
Đất trời cũng xỉn, cũng ưa làm tàng
Trưa vàng nắng đổ chói chang
Đùng đùng một trận tạt ngang phố phường
Tuôn như thác loạn, suối cuồng
Xôn xao giây phút mặt đường hóa sông
Gió mưa dạo khúc bốc đồng
Sài Gòn quen thói chơi ngông giỡn đời
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 07 tháng 09 năm 2014

Mưa Điên Sài Gòn





Quê em lắm điệu say sưa
Đất trời cũng xỉn, cũng ưa làm tàng
Trưa vàng nắng đổ chói chang
Đùng đùng một trận tạt ngang phố phường
Tuôn như thác loạn, suối cuồng
Xôn xao giây phút mặt đường hóa sông
Gió mưa dạo khúc bốc đồng
Sài Gòn quen thói chơi ngông giỡn đời

Thương tà áo trắng tả tơi
Thương vành môi thiếu nụ cười thiết tha
Thương đôi má thắm nhạt nhòa
Thu ba sầu muộn, hồn hoa bẽ bàng
Dầm dề bao nỗi phũ phàng
Hàng cây trút lá khóc nàng tái tê
Lom khom chạy nép bên lề
Nón bay ai nhặt, tóc thề ai lau?

Hà Thành nặng hạt mưa ngâu
Ngưu Lang, Chức Nữ gặp nhau tủi mừng
Sông Ngân nhỏ lệ tương phùng
Thăng Long lất phất, chín từng yêu thương
Mưa giăng núi Ngự, sông Hương
Tạ ơn công chúa dặm trường ra đi
Hy sinh mộng ước sá gì
Thần Kinh vân vũ thầm thì Huyền Trân

Mưa trên phố Huế nghĩa ân
Mưa ngoài Hà Nội tần ngần xót xa
Long lanh từng chuỗi ngọc ngà
Dẫu rơi ... rơi mãi ... đậm đà nước non
Cớ sao chỉ có Sài Gòn
Cứ ưa giận dỗi, oán hờn ... vô duyên
Bao giờ mới biết dịu hiền?
Eo ôi, chán ngấy mưa điên Sài Gòn! 




Nam Hải Trường Sơn
Canada, một ngày cuối hạ

Thương tặng người em gái Sài Thành
vẫn còn lận đận với những chiều mưa lụt đường.



[ Đọc Tiếp ]

Ngày 12 tháng 08 năm 2014

Chân Dung Người Cộng Sản




"Từ nhiều năm nay, Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) dẫn dắt dân tộc đi theo đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết, được coi là dựa trên chủ nghĩa Mác-Lênin."

Vũ Đông Hà - Câu mở đầu của bức thư ngỏ do 61 đảng viên cộng sản gửi cho Ban Chấp hành Trung ương và toàn thể đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam của họ đã cho thấy có những tâm thức ăn sâu vào phế phủ.

Khi họ vẫn tiếp tục xem ĐCVSVN - trong đó có họ - mang sứ mạng "dẫn dắt" cả một dân tộc thì tâm thức ngạo mạn, coi dân tộc không ra gì vẫn trước sau như một. Nó đã ăn sâu vào tiềm thức của những người suốt đời hít thở khói ám độc tài.

Tâm thức "dẫn dắt" đó chính là nền tảng của Điều 4 Hiến pháp, là bản chất kẻ cả của những người mang dòng máu chứa đầy vi khuẩn độc tôn.

Họ mở đầu bằng khoảng thời gian mù mờ "từ nhiều năm nay" chứ không rạch ròi "từ khi mới thành lập" để tạo ấn tượng như có "một khoảng thời gian nào đó" ĐCSVN đi đúng đường - đảng ngày xưa đúng, đảng bây giờ sai - trong khi hiện nay, một người có chút tri thức lẫn lương tâm cũng nhận ra rằng ngay từ khi ra đời và kéo dài cho đến nay ĐCSVN đã dùng bạo lực và chế độ toàn trị để ép buộc đất nước đi vào đường lối sai lầm.

Mù mờ, gián tiếp tạo ấn tượng một khoảng thời gian nào đó đảng đi đúng đường có lẽ để giải thích lẫn biện minh cho cái gọi là những "đảng viên ĐCSVN trung thành với tâm nguyện vì nước vì dân khi vào Đảng". Họ tin rằng, hay tự lừa dối lương tâm chính họ, hoặc cố tình lừa đảo cuộc đời rằng có những năm tháng họ và đảng của họ là một tập thể mà hành động, quyết định đều vì nước vì dân.

Chính vì cái ảo tưởng xuất phát từ sự tự thôi miên ta là vì nước vì dân mà họ, những người từ 75 tuổi đảng cho đến 17 tuổi đảng, vẫn tiếp tục tin rằng đảng của họ có quyền cai trị và chỉ có đảng của họ mới nên "tự giác và chủ động thay đổi Cương lĩnh, từ bỏ đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chuyển hẳn sang đường lối dân tộc và dân chủ, trọng tâm là chuyển đổi thể chế chính trị từ toàn trị sang dân chủ một cách kiên quyết nhưng ôn hòa."Họ muốn dân chủ nhưng từ chối nguyên tắc cơ bản nhất của dân chủ: nền chính trị quốc gia là do người dân chọn lựa chứ không phải do một đảng tự giác mà có.

Khi viết ra những câu như "những người có trách nhiệm của các tổ chức đảng các cấp và của từng đảng viên có tinh thần yêu nước" hay "trách nhiệm của các đảng viên yêu nước là phải cùng toàn dân nắm lấy thời cơ này..." họ muốn tiếp tục rao giảng rằng trong cái đảng làm nên thể chế độc tài, tạo nên cuộc cách mạng giết người long trời lở đất thời cải cách ruộng đất, bỏ tù trí thức nhân văn giai phẩm, cải tạo học tập, cải tạo công thương nghiệp, hiệp ước Thành Đô, tham những thành quốc nạn, buôn rừng, bán biển, nhượng đất... vẫn còn đó những đảng viên có tinh thần yêu nước.

Họ "yêu nước" nhưng vẫn ở lì, vẫn bám chặt vào một cái đảng mà từ đầu (không phải từ nhiều năm nay), cai trị dân tộc bởi đường lối sai lầm về xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình xô-viết như họ đã khai bút.

Không ai qua mặt những người cộng sản trong việc yêu nước bằng mồm, bằng diễn văn, bằng khẩu hiệu, bằng nghị quyết. Bầu yêu nước ấy đã sản sinh ra hình hài Việt Nam bạc nhược ngày hôm nay.

Họ yêu nước hay yêu đảng hơn?

Hay là họ yêu bản thân và sự an toàn của họ hơn hết mọi sự?

Hoặc họ yêu quá đi thôi cái "thuở ấy trong tôi bừng nắng hạ... ", không thể nào phủ sạch sành sanh để nhìn lại thấy cả cuộc đời đã bị lừa và góp phần vào tội ác.

Trong việc kêu gọi đảng của họ "tự giác" và "chủ động" thay đổi, họ ngỏ lời mong lãnh đạo của họ thực hiện những điều mà nhiều người không cùng đảng với họ đã phải trần ai, lên bờ xuống ruộng bởi đảng của họ: dân chủ, chống tàu cộng xâm lăng. Nhưng họ im lặng như tờ, bình chân như vại khi đồng bào không có thẻ đảng của họ bị bầm dập, bỏ tù. Họ vẫn đứng về phía của những kẻ đồng chí (hướng) của họ, hay yên lặng đồng lõa với tội ác của đảng.

Họ "yêu nước" theo cung cách đảng viên và vì thế hành động của họ cho thấy họ chẳng yêu thương gì những đồng bào nhưng không là đồng chí.

Vì Nước, Vì Dân phải xếp hàng đứng sau Vì Đảng.

Cuối cùng, sự thật không thể chối cãi: họ đã và vẫn đang là những đảng viên cộng sản. Họ vẫn là thành phần tạo nên guồng máy. Vẫn còn là đó nguyên hình chiếc bánh, con đinh, cái ốc... của cỗ xe vừa "dẫn dắt" vừa nghiền nát thịt da dân tộc Việt Nam. Họ là thành phần mà trong đó nhiều người vẫn khệnh khạng phán rằng: thời cụ Hồ, thời chúng tao tốt, thời thằng Trọng, thằng Sang, thằng Dũng xấu. Họ chưởi rủa cụ Trọng, cụ Bình nhưng vẫn miệt mài vái lạy cụ Hồ, cụ Mao.

Họ cũng là những người mà vào thời điểm khởi đầu của cái gọi là "từ nhiều năm nay" đồng nghĩa với lúc họ hết còn được nắm quyền, trước chức vụ của họ có thêm một chữ nguyên buồn bã: nguyên Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành trung ương, nguyên Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền, nguyên Trưởng khoa Quản lý kinh tế, nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng, nguyên Tư lệnh phó, nguyên Trợ lý Thủ tướng, nguyên Tham mưu trưởng Hậu cần, nguyên cán bộ cơ quan Bộ Công an, nguyên Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương, nguyên Tổng biên tập, nguyên Chủ nhiệm khoa, nguyên chuyên viên Tổng cục Chính trị, nguyên cán bộ Ban Tuyên huấn trung ương, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nguyên Vụ trưởng Văn phòng Trung ương Đảng, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, nguyên Giám đốc Sở Tư pháp, nguyên Tổng thư ký, nguyên Chủ tịch Ủy ban phối hợp hành động, nguyên thư ký của Bí thư, nguyên Phó bí thư Thường trực Thành đoàn, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn Hóa...

Đằng sau những chữ nguyên ảm đạm hoàng hôn đó là những chức vụ của một thời rực đỏ. Thời góp sức đắc lực nhất cho bộ máy độc tài. Chức vụ càng cao thì đóng góp càng nhiều cho đảng. Đóng góp càng nhiều thì chức vụ trong đảng càng cao. Và họ vẫn hãnh diện liệt kê chức vụ như là những chứng tích, thành quả, những bề dày, những lão với thành. Đừng hỏi họ trước khi có chữ nguyên thì họ có những loại thư ngỏ như thế này không.

Đó là chân dung của những người cộng sản.

Bạn có thể ủng hộ họ với suy nghĩ rằng dù sao họ cũng đòi đảng của họ những điều mà dân ta đang đòi.

Bạn có quyền ca ngợi họ yêu nước cũng như người khác có quyền lên án họ là những tội đồ.

Bạn có thể thông cảm hoàn cảnh họ hết thời nhưng cương quyết bám đảng để thay đổi, trong khi nhiều người khác không có cái an toàn khu như họ để chui vào nhưng vẫn sẵn sàng đứng lên đấu tranh cho những đổi thay.

Bạn có thể giao số phận của đất nước này cho tập thể những người làm nên hoang tàn và đổ nát trên quê hương để họ "tự giác" và "chủ động" trong cái gọi là "thay đổi cương lĩnh"; trong khi nhiều người khác quan niệm rằng không bao giờ có sự rời bỏ quyền lực nếu không có sức ép đến từ phản kháng của người dân.

Bạn có thể chấp nhận những người cởi áo cộng sản để mặc áo dân chủ và tiếp tục cai trị dân mình trong khi người khác cho rằng đó là trò chơi thoát xác, bình mới rượu cũ.

Sự khác nhau ấy chính là đa nguyên.

Nhưng chân dung của người cộng sản chỉ có một.

Vũ Đông Hà
Dân Làm Báo
[ Đọc Tiếp ]

Ngày 04 tháng 08 năm 2014

Vết Thời Gian

Năm trước
Đàn chim én rủ nhau xuôi về nam
Bị hương tràm và hoa đước thuyết phục
Quyết định dừng chân
Bên bờ Bắc Mỹ Thuận
Lượm lặt rạ khô
Làm tổ trú ngụ

Nơi quê cũ
Mái thềm tranh hiu quạnh
Vẫn mỏi mòn mong đợi
Chiếc bánh đòn nóng bỏng
Bên bếp lửa đầu xuân

Dòng Thạch Hãn cạn dần
Lõa lồ
Vết ô thời đại
Phút mặc ai
Kéo dài bất tận
Tiếng ve sầu
Trên hàng cây phượng đỏ
Trùng tấu
Khúc bi ca
Mùa hạ

Những chiếc lá
Kiệt sức
Cuối thu
Cũng bị cưỡng bức
Làm duyên làm dáng
Uốn éo theo điệu nhạc diêm dúa
Để báo hiệu
Thời trang đã đổi mùa
(Lấy đỏ, bỏ vàng)

Những hứa hẹn và thề thốt
Rình rang
Được người ta
Đưa vào lò
Làm củi đốt

Tình yêu theo ngọn gió tàn đông
Hoảng hốt bỏ đi
Khi biết em vẫn còn nuôi hy vọng
Kẻ sưởi ấm
Cuồng ngông
Chẳng phải là lũ đười ươi
Mặc áo gấm

Nam Hải Trường Sơn
Mùa phượng vỡ 2014
[ Đọc Tiếp ]

Ngày 29 tháng 07 năm 2014

Cô Gái Huế Với Tranh Thiếu Nữ Của Họa Sĩ Đinh Cường



Tôi nhớ, khoảng năm 1970, sau khi tốt nghiệp trường Hành Chánh, tôi được bổ về Thừa Thiên, Huế làm việc. Nhiệm sở là quận Quảng Điền, với chức vụ phó quận hành chánh. Quảng Điền cách Huế vài chục cây số, có cái địa danh rất nhiều người biết là phá Tam Giang với hai câu thơ “Thương em anh cũng muốn vô. Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang” Phá Tam Giang cách quận lỵ, là chợ Ngũ Xã, chừng một cây số. Thỉnh thoảng tôi ra đứng nhìn cái đầm nước rộng mênh mông đó mà chẳng thấy một chút xúc động, mơ mộng nào. Phía bên kia mờ mịt bờ dương liễu xanh thẫm, xa đến nổi thành một vạch dài, chia cắt nước với trời. Sau lưng tôi là bờ đất với những cây dại rải rác. Làng xóm ở tít đằng xa. Sau lũy tre xơ xác là những ngôi nhà tranh lụp xụp bên cạnh những thửa ruộng, những con đường quê vắng vẻ. Chiến tranh đã tiêu diệt một số người, một số khác tìm về thành phố sống lây lất, chỉ còn lại những người liều chết, sống bám ruộng đồng để săn sóc mồ mả tổ tiên, ông bà, cha mẹ...

Không rõ thời phát sinh hai câu thơ trên, phá Tam Giang nguy hiểm ra sao, chứ lúc đứng nhìn mặt nước yên tĩnh, bao la, tôi chẳng thấy sóng gió gì cả! Vậy mà cái anh chàng bạc tình nào đó nỡ ngâm nga hai câu thơ trên để nại lý do không thể vào Huế gặp “em”. Hay là anh ta cũng có cố gắng vượt được truông Nhà Hồ, vào đến phá Tam Giang, thấy cảnh vật quá đìu hiu, anh ta cụt hứng, tặc lưỡi một cái và quay về với cô hàng xóm?! Đã vậy còn có người bày đặt, thêm hai câu “Phá Tam Giang giờ rày đã cạn. Truông nhà Hồ, nội tán cấm nghiêm” Cô nào mà thèm nói như thế? Thứ con trai hèn nhát, “thiếu tư cách” cỡ đó mà người đẹp phải năn nỉ? Cô gái Huế, từ bao đời nay, là tiểu thư khuê các, vương tôn công tử thiếu điều quì lạy, chắc gì được để mắt đến, chưa nói đến gia pháp nghiêm minh, kín cổng cao tường, làm sao có chuyện liên hệ nam nữ, dù là quen biết, với một người con trai ở xa đến độ phải vượt truông nhà Hồ, vượt phá Tam Giang?...

Ủa! Thế còn tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường đâu, sao không nói đến? Xin thưa, vì yêu cô gái Huế quá nên tôi lạc đề! Mà cái tình yêu đó nó có nguyên nhân sâu xa nên tôi xin được phép dài dòng thêm chút nữa.

Năm đó tôi khoảng 15 tuổi, ở Hội An. Nhân dịp nghỉ hè, tôi rủ thằng bạn hàng xóm (đó là thằng Đỗ Đình Tân, hiện nay ở Philadelphia), làm một chuyến phiêu lưu ra Huế. Hai đứa tôi chưa biết Huế bao giờ, cũng không có bà con nào ở Huế cả, vậy mà cứ đón xe đi bừa. Trong túi chẳng có nhiều, chỉ đủ trả tiền xe đò, còn thừa chút đỉnh thì ăn bánh mì không (không có nhân), uống nước máy bên đường. Chúng tôi xuống xe ở bến An Cựu, bắt đầu lang thang khắp nơi. Đến dốc Nam Giao, qua nhà ga, thăm trường Đồng Khánh, trường Quốc Học, qua cầu Trường Tiền, đến chợ Đông Ba, vào thăm Đại Nội... Nghĩa là đọc sách, rồi hỏi người ta nơi nào nổi tiếng ở Huế là đến.

Buổi chiều, sau khi đi rã cẳng, hai đứa tôi đến bãi cỏ trên bờ sông Hương, ngay trước nhà sách Ưng Hạ, nằm dài ra, vừa chuyện trò vừa đón gió mát... Khi đèn đường sáng lên thì trời cũng chạng vạng. Hai đứa tôi chợt thấy bên kia đường, một cô bé đi qua, tay ôm chiếc chiếu. Cô lớn hơn tụi tôi khoảng vài tuổi, người mảnh khảnh, tóc ngang vai, mặt trái xoan dài trông vừa yểu điệu vừa ngây thơ. Có lẽ cô xem hai đứa tôi như em nên cử chỉ, lời nói rất tự nhiên tuy trong lúc đối đáp cô không xưng chị mà cũng không gọi tụi tôi bằng em. Giọng vui và dịu dàng, cô nói là cho hai đứa tôi mượn chiếc chiếu để ngủ, sáng mai đem trả lại – Cô chỉ nhà cô, bên kia đường – Có lẽ ba mẹ cô đứng trên lầu thấy hai thằng nhỏ vô gia cư nên sai con gái đem qua cho mượn chiếu. Chúng tôi rất cảm động, lí nhí cám ơn. Đã tử tế cho mượn chiếu, cô còn ân cần hỏi thăm mấy câu “Nhà ở mô?’ “Ở Hội An” “Hội An là ở mô?” “Đi vô Đà Nẵng rồi đi vô Hội An, xa lắm!” “Có đi học không?” “Có, học trường Trần Quí Cáp.” Cô cười, miệng rất đẹp, mắt cũng rất đẹp “Con trai đi chơi sướng hỉ!”

Cô đi qua đường, vô nhà rồi mà hai đứa tôi vẫn còn ngẩn ngơ. Được người đẹp nói chuyện thân mật như thế, là lần đầu trong đời nên tôi cứ tưởng cô là cô tiên hiện ra như trong chuyện cổ tích vậy. Và hình ảnh cô, lời cô nói, đôi mắt, miệng cười của cô, tôi nhớ mãi đến bây giờ... Buồn ngủ lại gặp chiếu hoa, lại là chiếu do người đẹp đưa, chúng tôi trải lên cỏ, êm như nằm nệm. Hai đứa tôi ngủ thẳng một giấc đến sáng. Tỉnh dậy mới biết là bị mất giày sandale (giày có quai) và cả mũ hướng đạo (mũ rộng vành) nữa. Thời đó, giày có quai và mũ rộng vành là thời trang của bọn học trò. Đành mua một đôi dép rẻ tiền đi tạm.

Chừng đó tuổi mà tôi đã biết mê gái, nên tôi giành phần đi trả chiếu. Cô bé đã đứng chờ sẵn trước cửa để nhận lại chiếu. Lần nầy tôi thấy cô đẹp hơn hôm qua, nhưng không biết làm thế nào để kéo dài thời gian gặp gỡ, tôi đành hỏi “Xuống sông tắm có được không?” Cô nhìn tôi, mắt sáng trưng vẻ như ngạc nhiên và cô cười “Được!” Đoán chừng cô sẽ lên lầu xem hai đứa tôi làm gì nên tôi nổi máu anh hùng, cởi đồ nhảy xuống sông biểu diễn bơi lội. Cái bờ sông Hương rất cao, đứng nhìn qua bên kia, thấy gần, nhưng xuống nước tôi bơi hoài, mỏi nhừ cả chân tay mà cũng chưa đến bờ! Cầu Trường Tiền sáu vày, mười hai nhịp, thì sông Hương đâu phải hẹp. Khi đến bờ bên kia, tôi sợ quá, không dám bơi trở lại nữa. Thế là tôi cứ mình trần, mặc chiếc quần đùi ướt mem, chạy dọc bờ sông, lên cầu Trường Tiền, chạy vòng về chỗ cũ.

Xứ Huế, bấy giờ, các bà gánh hàng bán ngoài chợ còn mặc áo dài, thì cảnh một thằng nhỏ cứ trần trùng trục chạy ngờ ngờ qua cầu, trên đường phố là một chuyện lạ. Có lẽ họ tưởng tôi điên. Khi về đến nơi, tôi nhìn qua bên kia đường, thấy cô bé đứng trên lầu, tựa lan can, nhìn tôi cười. Tôi không nhớ mình có mắc cỡ không, nhưng tôi cũng nhìn cô và cười. Và tôi yêu cô ta từ đấy. Tự nhiên mà yêu chứ chẳng có nguyên nhân nào cả. Vì yêu cô bé đó mà tôi yêu lây qua tất cả cô gái Huế. Tôi yêu lòng tốt của cha mẹ cô và yêu thương luôn người dân Huế. Thời đó còn nghỉ hè, trường học đóng cửa, nhưng tôi cũng có gặp được nhiều người đẹp trên các đường phố. Cô nào cũng đẹp dịu dàng và làm điệu khi được con trai nhìn. Dĩ nhiên hai thằng nhà quê, ngơ ngáo như tụi tôi thì cô nào mà thèm làm điệu. Sau nầy, khi vào Sài Gòn học, xem triển lãm tranh của họa sĩ Đinh Cường, thấy tranh thiếu nữ của ông ta, tôi biết ngay là ông vẽ các cô gái Huế. Đúng hơn, ông vẽ cô bé mà tôi yêu.

Nếu Từ Bi Hồng của Trung Hoa ngày xưa nổi tiếng vì chuyên vẽ về ngựa thì họa sĩ Đinh Cường vẽ tranh thiếu nữ là tuyệt vời. Vị nào đã sống ở Huế một thời gian, đã thấm được cái hồn của Huế, đã cảm nhận được những gì giấu kín sau gương mặt bình thản như lạnh lùng của cô gái Huế thì mới thấy tranh ông đã thể hiện được cái nội tâm bí ẩn đó. Giòng sông Hương lặng lờ, những con đường yên tĩnh. Đại nội, lăng tẫm, đền đài lúc nào cũng như ngủ say với thời gian, ngay cả con người trên đường phố, cũng di chuyển từ tốn, thong thả...

Nhưng không ai biết rằng, trong những khu vườn tưởng chừng vắng vẻ, trong những ngôi nhà cổ kính im lìm, ngay cả trong những cửa hàng buôn bán, những cuộc gặp gỡ quen biết, bao giờ cũng như xôn xao những tin đồn, những lời đàm tiếu khắc khe, có khi đến cay độc của những người đàn bà, những cô gái thì thầm về những người đàn bà, những cô gái khác. Và thế là, như một truyền thống, tất cả đều được giấu kín. Các cô, từ bé, đã được dặn dò là phải đề phòng một thứ gió độc, vô hình nhưng nguy hiểm, đó là dư luận. Người lớn tuổi làm gương cho lớp trẻ thấy cách thức che dấu những ý nghĩ, những tình cảm của mình. Nhưng khổ nỗi, tuổi mới lớn nào mà không mơ mộng. Tâm hồn cô nào cũng như sợi tơ trước gió, chỉ một chút giao động là đã ngân lên biết bao âm điệu ngọt ngào, thánh thót. Nhưng biết làm sao?! Chỉ có họa sĩ Đinh Cường mới “vẽ” được những bâng khuâng, những mơ mộng vẫn vơ đó ẩn dưới cái vẻ yểu điệu thục nữ, dưới gương mặt dịu dàng nhưng làm như vô tình của các cô gái Huế.

Thời còn đi học ở Sài Gòn (trước 75), xem tranh Đinh Cường, bao nhiêu năm rồi mà tôi vẫn còn nhớ hầu hết các tranh thiếu nữ của ông. Đa số các cô đều ốm, chân tay khẳng khiu, cổ cao, ngực chưa phát triển. Đó là những cô bé điển hình trong những gia đình nền nếp ở Huế. Các cô được nuông chìu quá nên thành nhỏng nhẽo, khó tính. Các bà mẹ thường kêu lên “Nó không chịu ăn. Có ngon bao nhiêu, dỗ giành bao nhiêu, nó cũng chỉ ăn có chút xíu. Không biết tại sao nữa?!” Thì tại sao! Tuổi đó phải ăn quà rong mới lớn được. Tuổi đó phải nô đùa, cười nói, chạy nhảy mới phát triển. Mà các bà mẹ Huế thì cấm tiệt. Thỉnh thoảng lắm, các cô mới lén rủ nhau đi ăn chè Cồn, ăn bánh bèo Vĩ Dạ. Bún mụ Rớt thì chỉ nghe người khác khen ngon hoặc họa hoằn lắm mới liều đi ăn thử, để biết với bạn bè. Ở nhà cũng có bún, có chè, có đủ thứ nhưng các cô không thấy ngon vì không vui, vì không có bạn bè cùng sì sụp với nhau. Các cô không thấy ngon vì thiếu cái khung cảnh chộn rộn của quán ăn, thiếu làn gió mát sông Hương, thiếu cây cỏ, đường đất khó khăn khi chở nhau trên chiếc xe đạp và nhất là thiếu bóng dáng mấy cậu học trò cứ lởn vởn, lượn lờ chung quanh với những lời chọc ghẹo vu vơ, bóng gió...

Tôi nhớ mãi bức tranh ông vẽ một cô, giống cô bé đã cho hai đứa tôi mượn chiếc chiếu. Cô choàng khăn nhiều màu rực rỡ. Có lẽ vào mùa Thu, gió thổi tung chiếc khăn, thổi tung cả mái tóc, thổi tung cả tâm hồn mới lớn, yêu người, yêu đời của cô... Và những cành lá của hàng cây bên đường cũng như lao xao, rung động. Nền là bầu trời xám nhưng vẫn còn sáng lên những tia nắng rực rỡ... Vẻ mặt cô điềm tĩnh, nhưng người xem vẫn cảm nhận được những xao xuyến trong lòng cô. Một bức khác, vẽ những cô gái đi chơi Xuân. Hoa nở khắp nơi, hoa nở chung quanh các cô. Hàng cây bên đường cũng sáng lên như nở hoa. Vẫn những cô gái mới lớn nhưng trông các cô vui và bối rối, như đang túm tụm, quính quíu với nhau. Người xem cứ tưởng vì mình ngắm các cô trong tranh khiến các cô mắc cỡ nhưng vui thích. Một bức khác, vẽ một cô đi học, mắt nhìn thẳng, vẻ tự tin và “xem thường bọn con trai.”

Bạn có khi nào ra Huế và đứng ngắm các cô nữ sinh Đồng Khánh đi học về chưa? Nếu bạn gặp các cô về trên con đường nhỏ trong thành nội thì càng thú vị. Nên thơ vô cùng! Nhưng dù gặp bất cứ ở đâu, cũng chẳng có cô nào thèm nhìn bạn. Có điều bạn không ngờ, chỉ một cái liếc mắt, dáng người, vẻ mặt, cử chỉ bạn đã được các cô nhận biết rất rõ ràng, tỉ mỉ. Các cô còn biết bạn nhìn cô nào nhiều nhất nữa. Nhưng tuyệt đối, không có cách nào, bạn gợi chuyện mà các cô trả lời. Vì hễ trả lời là các cô bị dư luận đàm tiếu ngay. Ở Huế, hàng cây bên lối đi, ghế đá công viên, đèn đường buổi tối, bờ sông lộng gió... Chúng như có mắt, có tai. Cô nào gặp ai ở đó, nói gì, làm gì, tức khắc, chúng kêu lên và cả thành phố đều biết!

Các cô uất ức lắm, chỉ muốn phá vỡ, đạp tung ra, nhưng không được. Vậy là các cô làm cách mạng trong văn, thơ. Những chuyện tình nóng bỏng, những giao tiếp nam nữ nồng nàn, cuồng nhiệt... Các cô tung hê, rên rỉ, chửi rủa. Và chửi rủa thẳng vào cái nề nếp cổ hủ, khắt khe, lạc hậu của dư luận xứ Huế. Đa số các nữ sĩ nổi tiếng đều là người Huế. Có một cách giải thoát nữa là các cô theo gia đình ra khỏi Huế. Lúc đó các cô như chim sổ lồng. Các cô vui tươi, thảnh thơi, thoải mái. Các cô cùng bạn bè thả rễu trên đường phố, liếng thoắng cười nói, cãi vã, sà vào hàng quà rong, chép miệng, hít hà vì cay, vì ngon, chẳng thèm nhìn chừng chung quanh như lúc còn ở Huế. Trong sân trường, các cô chạy nhảy, đuổi bắt nhau rồi đốp chát, cả đến chọc ghẹo các bạn trai. Thời còn trung học, ở trong Nam, lớp bạn có cô nào người Huế không? Thật tuyệt vời! Cả lớp như hân hạnh có được cô bạn tiểu thư đến học chung. Bạn vào lớp mà lòng cứ háo hức, muốn nổi bật trước người đẹp, nhất là khi được cô ta chuyện trò với bạn bằng thứ tiếng Huế pha giọng miền Nam, thì tim cứ mềm nhũn ra! Giọng cô vừa thánh thót vừa ngập ngừng như nũng nịu. Nũng nịu vì biết bạn bè, cả bạn gái nữa, thương yêu, nuông chìu.

Làm việc ở Huế, tôi thường lảng vảng trước nhà cô bé ngày xưa đã cho tôi mượn chiếc chiếu, trên đường Trần Hưng Đạo, nhưng hình như nhà đã đổi chủ. Không thấy cô nhưng hễ đi ngang qua là tôi vẫn dòm chừng, vừa hi vọng vừa buồn vẩn vơ. Tôi được biết họa sĩ Đinh Cường cũng ở Huế, ông dạy hội họa ở trường Mỹ Thuật và các trường trung học Đồng Khánh, Quốc Học, Thành Nội (Hèn chi ông vẽ các cô nữ sinh Đồng Khánh hay quá!), nhưng tôi không quan tâm đến ông, chỉ chờ ông triển lãm tranh để đi xem mà thôi. Vả lại, tôi không phải văn nghệ sĩ, tiếp xúc với họ, mình thành lạc lõng ngay.

Chuyện gặp gỡ sau đây, bạn sẽ thấy các ông văn nghệ sĩ, càng tài hoa càng không giống “người phàm” chút nào. Một buổi tối, có người bạn đánh xe đến rủ tôi vào đại nội thăm họa sĩ Đinh Cường. Xe chạy qua cửa Hiển Nhơn, vào các con đường hẹp, lát đá, hai bên là tường cao, cây cối um tùm, đèn đường tù mù, vàng vọt. Đại nội tức hoàng cung là nơi gia đình nhà vua ở và làm việc, nay bỏ hoang. Ban ngày, vào đại nội đã thấy vắng vẻ, ban đêm lại càng âm u như cảnh liêu trai, người lẫn lộn với hồn ma, bóng quế.

Nhà họa sĩ Đinh Cường ở cạnh trường Mỹ Thuật Huế, trước đây là văn phòng của hoàng đế Bảo Đại khi ngài còn làm Quốc Trưởng. Khi chúng tôi xuống xe, đã thấy trước sân nhà ông mấy vị ngồi quanh một cái bàn nhỏ, tay cầm một ly rựơu, im lặng như mấy pho tượng. Bạn tôi giới thiệu tôi với họ, thấy họ chỉ gục gặt đầu thay lời chào. Tôi cũng làm như vậy cho hợp cách. Tôi được biết đó là những họa sĩ Văn Đen, Mai Chửng, Hiếu Đệ, Bửu Chỉ, Trịnh Cung... và một số nhà văn nổi tiếng từ Sài Gòn ra. Rồi ông Đinh Cường từ trong nhà đi ra. Ông rót cho chúng tôi ly rượu, tôi cũng cầm và ngồi xuống như họ. Ngồi một lát, tôi chán đòi về. Lúc đó ông Đinh Cường mới nhờ tôi sáng mai, chủ nhật, đưa giùm mấy người bạn từ Sài Gòn ra, đi xem lăng tẩm, chùa chiền. Tôi nhận lời nhưng báo trước là xe tôi tệ lắm, sợ mất uy tín mấy ông mà thôi. Nguyên nhân, khi về nhận nhiệm sở thì không có phương tiện cho ông phó (là tôi) đi công tác. Tay quận trưởng mới lôi chiếc xe jeep phế thải từ thời Thế Chiến thứ hai ra, kêu mấy tay thợ sửa máy cày đến, đục đục, gõ gõ, lui cui mấy ngày thì xe nổ máy, nhưng cái trần thì mục rã, thành một lỗ trống hoác phía trên.

Sáng hôm sau, khi tôi đưa chiếc xe cà tàng đó đến thì các ông đứng sẵn ở đấy cứ trố mắt ra mà trầm trồ, suýt soa, coi bộ khoái chí lắm. Khi xe chạy, các ông chen nhau đứng lên, thò đầu qua cái trần xe thủng, nhìn phố xá, nói cười hí hửng như trẻ con. Thiên hạ đi đường nhìn các ông mà kinh ngạc. Cả đến ông cảnh sát chỉ đường trước ty thông tin cũng đứng nhìn sững, quên cả nhiệm vụ. Nhưng khi xe ra ngoại ô, đến chùa Từ Hiếu thì các ông trở lại yên lặng. Mỗi ông đứng riêng một góc. Ông thì nhìn vô chùa, ông thì ngóng ra đồi thông, ông lại quay ra mấy cái mả... Chẳng biết các ông suy nghĩ gì mà không nói với nhau tiếng nào?! Tôi chán nhưng cũng đành ngồi ngáp gió, chờ các ông chứ không bỏ về được. Xem thế đủ biết các ông văn nghệ sĩ không giống ai. Nhưng cũng có nhiều người lại thích giao thiệp với họ, kiểu dựa hơi để kiếm chút thơm lây. Giống như tên đánh xe cho quan tể tướng ngày xưa bên Tàu vậy. Người ta chào quan tể tướng mà tên đánh xe tưởng chào hắn, mặt cứ vênh lên. Thì chính tôi cũng là tên đánh xe, cũng đang khoe nhặng lên đây nè!

Nữa, lại lạc đề rồi! Xin lỗi, tôi xin trở lại chuyện tranh thiếu nữ của họa sĩ Đinh Cường. Năm 75, sập tiệm. Tôi đi tù rồi đi HO qua Mỹ. Xui khiến sao tôi và họa sĩ Đinh Cường ở cùng tiểu bang Virginia nhà cũng gần nhau. Ông không nhớ ra tôi nhưng tôi thì nhận ra ông ngay vì ông trông giống hình ông tổng thống Mỹ trong tờ trăm đô la.

Tôi xin phép được đến nhà ông để xem tranh. Tranh ông bây giờ tuyệt vời hơn trước, từ bố cục, đường nét đến màu sắc. Nhất là màu sắc, ông đi màu như ông đã “ngộ” với màu, chìm đắm, hòa nhập với màu vào tranh. Ông vẽ tranh bằng cái tâm, cái hồn của ông chứ không bằng tay, bằng cọ... khiến người xem rung động, hạnh phúc... Nhiều nhà văn, nhà thơ hải ngoại ra sách đều nhờ ông cái tranh bìa. Thơ, truyện có hay có dở, nhưng rủi mua nhằm sách dở thì cái tranh bìa Đinh Cường cũng an ủi rất nhiều. Cái bìa lộng lẫy, sang trọng đã đáng tiền rồi. Có lần nghe đài RFI (Pháp) phỏng vấn, ông bảo có chịu ảnh hưởng của họa sĩ Modigliani, nhất là về tranh thiếu nữ, nhưng tôi vẫn thấy tranh ông có những nét độc đáo, rất Việt Nam, rất Huế. Hình như ông đang mở ra một hướng mới cho tranh ông. Có những bức tranh, phải vừa thưởng thức vừa suy tư để tìm xem nhân vật trong tranh đang nghĩ gì, và sẽ làm gì?... Tuyệt vời nhất là tranh khỏa thân. Chỉ vài đường cọ, tất cả hiện nguyên một cô gái. Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên. Nhưng trông cô ngây thơ, hoang dã và thánh thiện đến độ người xem không thấy ham muốn gì khác hơn là ao ước được ôm hôn lên và cảm thấy mình cũng thánh thiện như cô.

Tôi nhớ cô bé ngày xưa, nhớ tranh thiếu nữ của ông quá! Tôi đến để tìm xem, nhưng ông không còn vẽ các cô gái mới lớn nữa mà ông vẽ các cô đã trưởng thành, nẩy nở toàn vẹn, giống như tranh phụ nữ vài thế kỷ trước. Nhưng tranh cổ điển quá khêu gợi, quá dung tục. Tranh ông kín đáo hơn. Chỉ để lộ một phần quần trắng ở chỗ mông tròn lẳn, thơm tho, như mời gọi, mà tà áo dài không che hết được. Vẻ mặt cô gái như trầm ngâm, suy tư... Tôi nghĩ đến cô bé ngày xưa đã cho tôi mượn chiếc chiếu, bây giờ có lẽ cô cũng đã lớn như thế. Nhưng hiện nay cô ta ra sao? Cô ta ở đâu? Cô đâu có ngờ rằng, một lần cô vô tình nhìn tôi cười mà tôi nhớ đến cô mãi.

Họa sĩ Đinh Cường không còn vẽ tranh thiếu nữ tuổi mới lớn nữa. Ông đã để tất cả những cô bé mới lớn đó và cả những mơ mộng, nhớ nhung vẩn vơ của tôi ở lại bên kia bờ đại dương xa xôi.

Phạm Thành Châu

[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Vietnam Unadulterated — No Uncle, No Party, No Bullshit
Việt Nam Thuần Khiết — Không Bác, Không Đảng, Không Cứt Bò


 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn