Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 16 tháng 07 năm 2015

Quảng Trị: Rừng Tiền Biển Bạc Giữa Thời Đại Hồ Chí Minh Rực Rỡ



Quảng Trị là một giải đất eo hẹp bậc nhất Việt Nam. Chiều ngang từ Đông sang Tây trung bình không quá 65 km, với chỗ rộng nhất chưa tới 76 km và chỗ hẹp nhất chỉ hơn 52 km. Từ bờ biển đi thẳng lên khoảng ba bốn chục cây số là tới mép rừng. Nếu nói rằng người dân Quảng Trị lưng tựa vào Trường Sơn mắt nhìn ra có thể ngó thấy Biển Đông thì cũng không phải là quá ngoa. Sống kề cận với rừng và biển nên hơn ai hết họ hiểu rõ cái đạo lý hàm chứa trong câu tục ngữ Rừng tiền, biển bạc! do cha ông để lại. Nguồn tài nguyên phong phú mà Trời Đất ban bố là một món quà rất quý báu và nếu chúng ta biết đối đãi tử tế với thiên nhiên, biết bảo vệ môi trường thì nguồn tài nguyên ấy có khả năng tái tạo liên tục để mọi người có thể cùng hưởng dụng từ đời này sang nọ.

Thế nhưng kể từ khi bọn thổ phỉ tràn vào thì rừng tiền, biển bạc không còn mang ý nghĩa thông tuệ và cao đẹp ấy nữa. Rừng đã trở thành phương tiện để chúng làm tiền và biển chỉ là công cụ để chúng hốt bạc. Vì tư lợi, bất chấp mọi an nguy của quốc gia.

Bốn mươi năm đã qua, chứng cớ chồng chất nhiều vô kể, và gần đây nhất lại đến phiên Quảng Trị trở thành một địa điểm nổi bật trên bản đồ tham ô hủ bại của Việt Nam. Tuần trước, một số cơ quan truyền thông quốc doanh do báo Lao Động dẫn đầu đã hăng hái đưa tin về hai sự kiện chấn động biển rừng — khiến quê hương của Non Mai và Cửa Việt phải ngậm hờn đớn đau, khiến nhiều người trong cũng như ngoài nước phẫn nộ.

Ngày 6 tháng 7, tờ Lao Động đưa tin với một cái tít có tính gây sốc cao độ là Quảng Trị: Tuần tra biển khống, “rút ruột” Nhà nước hàng tỉ đồng. Theo tường trình của báo này, kết quả điều tra sơ bộ cho hay trong hai năm 2013-2014, bộ chỉ huy Bộ Đội Biên Phòng (BĐBP) tỉnh Quảng Trị đã lập ra 11 kế hoạch tuần tra trên biển để kiểm soát hoạt động nghề cá, hỗ trợ ngư dân, và bảo vệ lãnh hải trong phạm vi tỉnh Quảng Trị. Qua đó, một số tàu thuyền đã được “điều động” tham gia tuần tra, nhưng trên thực tế chúng không hề rời bờ nửa mét. Đây là những "kế hoạch ma" — chỉ tồn tại trên giấy tờ với mục đích duy nhất là để rút gọn hơn 2 tỉ đồng từ ngân sách quốc gia đem về... bỏ túi. Nói là "kết quả điều tra sơ bộ" vì một cán bộ công tác trên các con tàu "đã được điều động" này khẳng định rằng trên thực tế số lượng "tàu ma" được "quyết toán khống" còn lớn hơn nhiều. Nguồn tin đề nghị giấu tên của báo Lao Động bật mí cho biết thêm rằng tất cả 11 kế hoạch tuần tra khống để ăn cắp hơn 2 tỉ đồng này đều do đại tá Nguyễn Trọng Tiềng, chỉ huy trưởng BĐBP tỉnh Quảng Trị, và chính ủy của đơn vị là ông Nguyễn Đức Khánh thông đồng thực hiện.

Tàu BĐBP đang nằm bờ, nhưng trên giấy tờ đã được điều động đi tuần tra biển
và tiêu thụ 1 lượng nhiên liệu gấp 2 đến 3 lần dung lượng tối đa.
Nhưng mạng lưới tham nhũng của bộ chỉ huy BĐBP tỉnh Quảng Trị không chỉ chờn vờn trên mặt biển mà còn bao trùm cả nhiều vùng núi rừng mênh mông, và hai kẻ chủ mưu không ai khác hơn chỉ huy trưởng Nguyễn Trọng Tiềng và chính ủy Nguyễn Đức Khanh. Hình như họ quyết tâm thực hiện lý tưởng rừng tiền, biển bạc bằng con đường... giang hồ thảo khấu. Vì ở rừng không thể lập ra các cuộc tuần tra ma có lợi nhuận lớn nên họ đã chọn một phương thức khác, bỉ ổi không kém: trực tiếp chiếm đoạt hơn 95% kinh phí bảo vệ rừng của các chiến sĩ biên phòng ngày đêm canh gác ở các tiền đồn hẻo lánh.

Cụ thể, năm 2013, đồn biên phòng Ba Lin được giao trách nhiệm quản lý 1.851 ha rừng với số tiền được hưởng là 344.977.500 đồng. Nhưng đơn vị chỉ mới được nhận 40 triệu, còn thiếu 304.977.500 đồng. Năm 2014 thì càng tệ hơn, đồn quản lý 3.088 ha rừng với số tiền được hưởng là 417.666.000 đồng, nhưng chưa được nhận đồng nào. Tính ra, trong 2 năm nói trên, đồn Ba Lin bị bộ chỉ huy ăn mất trên 722 triệu đồng tiền giữ rừng. Tương tự, hai đồn Sa Trầm và La Lay cũng bị chiếm đoạt những số tiến xấp xỉ. Như vậy, trong 2 năm, tổng cộng có hơn 2 tỉ đồng đã không hề đến tay bộ đội biên phòng ở ba tiền đồn này mặc dù số tiền đó hoàn toàn do họ còng lưng ra để đổi lấy. Ngoài ra, nhiều hộ dân tham gia các dự án trồng rừng theo diện hợp đồng cũng bị ăn chặn cùng kiểu cách. Vì miếng cơm manh áo bị cướp đoạt trắng trợn nên cuối cùng một số nạn nhân đã đâm đơn tố cáo cấp trên "tham ô, trục lợi."

Sau khi vụ việc bị bại lộ, Nguyễn Trọng Tiềng và Nguyễn Đức Khanh luống cuống sai đàn em "diễn tuồng" để chạy tội hay chí ít là để "giảm thiểu hư hại." Nhưng vì kịch bản quá tồi nên càng diễn cái đuôi chồn càng lòi ra. Đầu năm 2015, theo chỉ đạo của Hoàng Văn Khế, trưởng phòng hậu cần thuộc bộ chỉ huy BĐBP Quảng Trị, một nhân viên cấp dưới tên là Ngô Quang Toàn đã mang 50 triệu đồng lên đồn Ba Lin để trả kinh phí giữ rừng năm 2013 và 50 triệu đồng lên đồn Sa Trầm để trả kinh phí giữ rừng năm 2014. Biết rõ ý đồ lấp liếm của bộ chỉ huy nên cả hai đơn vị này đều không chịu nhận mà chỉ lập "biên bản gởi tiền." Trong khi đó, kinh phí giữ rừng của đồn La Lay trong 2 năm 2013-2014, cũng như của đồn Ba Lin trong năm 2014 và của đồn Sa Trầm trong năm 2013 thì họ phớt lờ. Cùng với việc đem 100 triệu đồng tiền giữ rừng các năm 2013, 2014 đi trả cho hai đồn này, người của bộ chỉ huy BĐBP Quảng Trị đã cho lập hàng loạt “giấy nhận tiền” cùng đề ngày 25 tháng 1, 2015 để bắt người dân địa phương ký với nội dung có đi trồng rừng cho dự án của BĐBP.

Theo báo Lao Động, một luật sư ở Việt Nam nói rằng: “Về nguyên tắc, kinh phí giữ rừng các năm 2013, 2014 đã quyết toán mà không đến tài khoản đơn vị thụ hưởng, có nghĩa là số tiền đó đã bị cá nhân, tổ chức nào đó chiếm đoạt. Do vậy, các khoản tiền do ông Toàn mới mang đến trả cho 2 đồn biên phòng nói trên phải được coi là tang vật của một vụ việc chiếm đoạt tiền có đủ dấu hiệu hình sự của loại tội phạm tham ô, tham nhũng.”

Nhưng nếu vụ việc này xảy ra ở một nước phương Tây, chẳng hạn như Canada hoặc Mỹ, thì vấn đề không thể đơn giản như thế, vì các đương sự nhất định sẽ bị truy tố ra tòa án quân sự, để đồng thời xét xử cả tội phạm hình sự lẫn tội phạm quân sự. Về mặt tội phạm hình sự, ngoài tội tham nhũng ra, chí ít còn có bốn tội nữa là lừa đảo tài sản của người khác, lường gạt tài sản quốc gia, giả mạo văn kiện, và che giấu tội phạm. Về mặt tội phạm quân sự, chí ít phải có sáu tội: vi phạm quân kỷ, lạm dụng chức quyền, hành vi không xứng đáng với người mang quân hàm sĩ quan, hành vi không xứng đáng với người giữ chức vụ chỉ huy, hành vi làm tổn thương chí khí của binh sĩ, và hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia. Kết quả chắc chắn là họ sẽ bị cách chức, lột quân hàm, sa thải vô danh dự, và lãnh án tù giam chí ít là 15 năm.

Nhưng việc ở xứ Ta ai dại gì mà xử lý như kiểu Tây. Theo dự đoán của tôi, sẽ không có một hình phạt nào tương xứng với tội lỗi của các đương sự. Đừng nói chi tù giam, chỉ đơn giản là chuyện cách chức hay cho giải ngũ không thôi cũng đừng mong đợi. Họ sẽ được thuyên chuyển đi nơi khác và quá lắm là bị giáng chức cho xuống chỉ huy một đơn vị nhỏ hơn. Thế thôi. Đảng sẽ đưa ra một kịch bản mới để sửa đổi một số chi tiết quan trọng trong bản tin của báo Lao Động nhằm giảm thiểu tính thối tha nghiêm trọng của vụ việc. Rồi chắc chắn chúng ta sẽ được nghe những lời lý giải rập khuôn rằng đây là một sự kiện cá biệt, chỉ đơn thuần là chuyện con sâu làm rầu nồi canh, không có tính hệ thống.

Đây là một vấn đề nhạy cảm có liên quan đến "hình ảnh cao đẹp của bộ đội cụ Hồ" và an ninh quốc gia. Nếu làm lớn chuyện, bàn dân thiên hạ sẽ có thêm cơ hội mỉa mai: "Bảo vệ tổ quốc như kiểu này, không mất nước mới là chuyện lạ." Thế là khốn cả lũ. Để gìn giữ cái mác "đảng là đạo đức, là văn minh," nguyên tắc hoạt động "cứt thối đậy kỹ" lúc nào cũng phải được đặt vào vị trí ưu tiên. Bởi thế, bị kỷ luật nặng hơn không khéo lại là phóng viên của báo Lao Động và những người tố cáo vụ việc, vì tội cố ý... quậy hầm cầu.


Ngồi mát ăn bát vàng: Người dân và BĐBP Quảng Trị còng lưng bảo vệ rừng,
nhưng tiền công thì bị bộ chỉ huy ăn chặn hơn 95%.
Chẳng cần tìm kiếm đâu xa, chỉ cách đây hơn hai tháng thôi, trong buổi lễ kỷ niệm 125 năm ngày sinh của ông Hồ, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hùng hổ tuyên bố: "Thời đại Hồ Chí Minh là một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam..." Rồi ra rả kêu gọi: "Mỗi cán bộ, đảng viên hãy cố gắng xứng đáng là công bộc của dân, là học trò, con cháu của Bác Hồ; mỗi người dân Việt Nam xứng đáng là công dân của đất nước Hồ Chí Minh."

"Đất nước Việt Nam" — tên gọi ngàn năm một thuở của tổ quốc — nay bỗng dưng bị đổi thành "đất nước Hồ Chí Minh" là một vấn đề rất đáng được bình luận, nhưng xin khất lại một dịp khác. Ở đây tôi chỉ nói thêm một đôi điều về cái gọi là "thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam" — một vấn đề đang gây tranh cãi sôi nổi và khiến không ít người cực kỳ phẫn nộ. Theo tôi, hai bên không thể đạt thành cộng thức vì họ có cái nhìn khác nhau về ý nghĩa của hai chữ "rực rỡ."

Đối với ông Trọng, "rực rỡ" phải dựa trên những thành tích cụ thể, chứ không thể nói một cách trừu tượng, viển vông. Chẳng hạn như thành tích của bộ chỉ huy BĐBP Quảng Trị trong việc thành công chế tạo được một loại tàu tuần tra biển hiện đại và tinh xảo nhất thế giới: hoàn toàn có thể chạy trên giấy và mỗi chiếc hàng năm có thể kiếm được hàng trăm triệu đồng lợi nhuận. Tại Việt Nam, một thực tế rất oai hùng, đáng được ghi vào Kỷ Lục Guinness, là hơn 99% cơ quan của nhà nước đều có thể ứng dụng một cách nhuần nhuyễn kỹ thuật "kế toán sáng tạo" để sản xuất một lượng "hóa đơn khống" và "dịch vụ ma" đạt mức hàng đầu thế giới.

Hoặc là sự chăm sóc tận tình và cao cả của chỉ huy trưởng và chính ủy đối với người dân lao động sống ở ven rừng và BĐBP Quảng Trị qua việc bảo quản dài hạn hơn 95% tiền công của họ. Mà đây nào phải là một hiện tượng cô lập, ở đâu chúng ta cũng có thể chứng kiến tấm lòng ưu ái của giới lãnh đạo đối với nhân dân, đến hàng cứu trợ nạn nhân bão lụt bao gồm tiền, gạo, áo quần, thậm chí cả mì gói họ cũng không ngần ngại kiếm đủ mọi cách để bảo quản dài hạn cho kẻ đang sống trong cảnh màn trời chiếu đất.

Nhìn từ góc độ này, thời đại ngày nay thực sự quá rực rỡ. Rực rỡ đến độ có thể đốt cháy tâm hồn của người dân và khiến họ mù luôn đôi mắt.

Nam Hải Trường Sơn
Toronto, 16 tháng 7, 2015
[ Đọc Tiếp ]

Ngày 12 tháng 06 năm 2015

Con Đường Giác Ngộ Của Một Chú Việt Cộng



Chú là một trong những đảng viên cao cấp tiến vào Dinh Độc Lập trong ngày 30 tháng 4, 1975. Với cấp bậc đại tá, quá lắm chú cũng chỉ đứng ở vị trí thứ hai hoặc thứ ba mà thôi vì trong đoàn chí ít còn có một thiếu tướng và một đại tá khác, nhưng có lẽ chú nổi tiếng hơn cả vì một câu nói để đời, trước mặt ông "Big" Minh. Khi nghe vị tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa bảo rằng ổng và nội các đang chờ đợi đã lâu để bàn giao chính quyền, chú lên tiếng chặn họng ngay: "Không có vấn đề chuyển giao quyền lực ở đây. Chế độ của ông đã sụp đổ. Người ta không thể chuyển giao cái mà người ta không có được."

Hàm ý vênh vang của kẻ chiến thắng, đối với giới lãnh đạo của một chế độ đang trút hơi thở cuối cùng, phảng phất nghe choi chói như tiếng reo hò của quân thảo khấu: "Các ông còn gì nữa mà bàn giao. Toàn thể miền Nam là chiến lợi phẩm, chúng tôi muốn lấy gì hoặc làm gì là quyền của chúng tôi, các ông đã bại trận, chỉ còn nước đầu hàng thôi." Thế rồi họ lập tức đưa ông Dương Văn Minh qua đài phát thanh để đọc "tuyên bố đầu hàng vô điều kiện" theo văn bản mà họ đã viết sẵn.

Sau chiến tranh, sự nghiệp của chú vươn cao như diều gặp gió, từ phóng viên chiến trường chú được thăng chức phó tổng biên tập nhật báo Nhân Dân rồi kiêm luôn chức tổng biên tập tuần báo Nhân Dân Chủ Nhật. Chú nghiễm nhiên trở thành người lãnh đạo của hai cơ quan ngôn luận và tuyên truyền hàng đầu của ĐCSVN. Nhưng điều quan trọng hơn có lẽ là triển vọng được phong tướng.

Rồi đùng một cái, nhiều người cảm thấy hết sức kinh ngạc khi nghe tin chú xin tị nạn tại Pháp, nhân dịp sang Paris tham dự một hội nghị do báo L'Humanité tổ chức vào tháng 9, 1990 — với lý do chính thức là để đấu tranh cho tự do, dân chủ và nhân quyền. Mới nghe qua thì có vẻ rất xôm tụ, nhưng thực ra vào thời điểm đó chú chỉ muốn trở thành một nhân vật bất đồng chính kiến để phê phán đường lối của giới lãnh đạo ĐCSVN lúc bấy giờ mà chú cho rằng "đã tách rời lý tưởng cộng sản quá xa."

Trong giai đoạn đầu của cuộc sống lưu vong tại Pháp, chú vẫn cứ nhập nhằng với tâm trạng nửa tỉnh nửa mê, không có lập trường chống cộng dứt khoát. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên vì đây chính là một hội chứng chung của những người muốn cải cách chế độ nhưng không muốn phá vỡ thần tượng Hồ Chí Minh và những huyền thoại "huy hoàng" của ĐCSVN. Đối với họ, có 2 ĐCSVN. Đảng hồi trước, lúc họ còn là đảng viên và được trọng dụng, thì thực sự có "đạo đức và văn minh." Còn đảng bây giờ, chẳng màng đoái hoài đến họ nữa, thì đã trở nên "đồi trụy và lạc hậu" — bởi thế họ phải chống đối để chấn chỉnh và hoàn nguyên.

Càng khó dứt bỏ hơn là "thành tích cách mạng" của chính cá nhân họ. Đoạn tuyệt với cái "công lao cách mạng" mà họ đã suốt đời gầy dựng để làm lại từ đầu bằng con số không là một vấn đề hết sức gian nan. Thừa nhận là "chân, thiện, mỹ" những cái mà trước đây họ đã gán cho cái mác "ngụy, ác, xấu" không phải chỉ đơn thuần cần có sức đột phá về mặt trí tuệ. Nó còn đòi hỏi một tấm lòng quả cảm. Thắng người dễ, thắng mình mới khó. Vì không thể vượt qua chướng ngại tâm lý này nên nhiều người, nói như lời của một ông đại tá Việt cộng khác, vẫn cứ muốn "ăn mày dĩ vãng."

Cho đến năm 1998, qua tác phẩm Mây Mù Thế Kỷ, chú vẫn giữ nguyên thái độ hằn học đối với Việt Nam Cộng Hòa. Chẳng hạn, ở trang 32, chú chê bai quân đội miền Nam không có chính nghĩa và lòng yêu nước như quân đội miền Bắc: "Trước nhân dân và cả nước Việt Nam, trước dư luận quốc tế, quả thật là có quá nhiều khó khăn, khi muốn dành cho quân đội [Việt Nam Cộng Hòa] ấy những chữ "yêu nước", "chính nghĩa" khác với Quân Đội Nhân Dân Việt Nam." Ở trang 54, thậm chí chú còn ngụy tạo những bằng chứng ảo để bôi bác ngọn cờ vàng: "Nhiều người trước kia đã là viên chức cao cấp trong chính quyền miền Nam đã nói với tôi: 'Chúng tôi muốn quên lá cờ vàng ba sọc đỏ ấy đi vì nó tiêu biểu cho một chế độ quan liêu, quân phiệt, tham nhũng và thối nát, chúng tôi không muốn thừa nhận lá cờ ấy.'"

Nhưng trong những năm tháng gần đây, có lẽ vì ánh sáng chân lý đã xua tan mây mù thế kỷ nên người ta thường thấy chú đến với cộng đồng người Việt quốc gia ở hải ngoại. Chú kính cẩn tham gia nhiều buổi lễ chào cờ vàng và chẳng ngại ngần cất tiếng ca phản động: "Này công dân ơi! Đứng lên đáp lời sông núi!" Quân lực Việt Nam Cộng Hòa bây giờ không còn thiếu chính nghĩa nữa mà "dạt dào lòng yêu nước theo cách riêng của họ."

Đối với một người thông minh và hiểu biết rộng như chú, quá trình chuyển hóa từ "giác ngộ cộng sản" sang "giác ngộ dân chủ" quả thật là quá lâu. Nói theo ngôn từ Phật giáo thì chú đi theo con đường tiệm ngộ chứ không phải đốn ngộ — giác ngộ từ từ, mỗi ngày một chút, nên thời gian kéo dài dăng dẳng, tính kỹ chí ít cũng phải mất hơn... nửa thế kỷ. Chính chú cũng đã thẳng thắn tự nhận rằng "mình ngu lâu thật."

Nhưng thà muộn còn hơn không. Tôi buồn vui lẫn lộn khi đọc lời hối lỗi gần đây nhất của chú, hoàn toàn không dè dặt và rất chân thành: "Nhìn lại 44 năm quá khứ CS của mình, tôi nhận rõ có không ít điều tôi giác ngộ, cho là đúng, thì khốn thay, hầu hết đều là lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác." Tôi cảm nhận được nỗi niềm cay đắng trong ngôn từ của chú. Trên nhiều phương diện nó cũng chẳng khác gì nỗi đau của Mikhail Gorbachev khi ông ta thố lộ: "Tôi đã bỏ hơn nửa cuộc đời để đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, nhưng ngày hôm nay tôi phải đau buồn mà nói rằng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá."

Tôi vui vì chú đã thực sự cải tà quy chính, đã trở về trong lòng Mẹ Việt Nam nhân ái và dân bản. Tôi sẵn sàng tha thứ cho tất cả mọi "lầm lẫn, ngộ nhận, ảo tưởng, sai lầm và cả tội ác" của chú trong những năm tháng mù quáng đi theo đảng. Người xưa có câu: "Nhân thùy vô quá. Quá nhi năng cải, thiện mạc đại yên." Phàm là người ai mà chẳng có sai. Nhưng sai mà biết sửa đổi thì chẳng có gì tốt đẹp bằng. Tôi vui vì chú đang tích cực đem trải nghiệm của chính bản thân mình để cổ động các đồng chí cũ cũng như đảng viên mới nên "hồi đầu thị ngạn."

Đến đây, có lẽ nhiều bạn đọc đã đoán được chú là ai. Vâng, chú là Bùi Tín, một nhà báo tự do, hiện đang cư ngụ tại Paris. Nhưng trong sổ trắng sổ đen của ĐCSVN chú được xếp vào thành phần "phản đảng, bán nước cầu vinh" và bức tâm thư Bàn về hai chữ: Giác ngộ (gửi các đảng viên CS, các đồng chí cũ) mới đây của chú chắc chắn đã được đưa vào danh mục hàng hóa cấm lưu thông.

Dân tộc Việt hiện tại còn có quá nhiều người mê muội. Hy vọng nỗ lực của chú có thể góp phần làm vơi đi điều bất hạnh đó.

Nam Hải Trường Sơn
Toronto, 12 tháng 6, 2015

[ Đọc Tiếp ]

Ngày 06 tháng 06 năm 2015

Truy Niệm Thiên An Môn



Ngày 4 tháng 6, 2015 đánh dấu khoảng thời gian dài hơn một phần tư thế kỷ kể từ khi vụ thảm sát Thiên An Môn xảy ra vào năm 1989. Như thường lệ, chính quyền Bắc Kinh vẫn tiếp tục bố ráp những nhà hoạt động cố gắng tổ chức lễ tưởng niệm biến cố này. Mạng Internet tại Trung Quốc bị kiểm soát nghiêm mật. Mọi ngôn từ và số hiệu nhạy cảm về vấn đề này đều bị ngăn chận, không thể truy cập. Ngoài những tham chiếu trực tiếp như “天安门,” “天an门,” “Tiananmen,” hoặc “TAM” (một số biến thể của Thiên An Môn), “anniversary” (lễ kỷ niệm hàng năm), “26周年” hoặc “二十六周年” (chu niên thứ 26), “26年” hoặc “二十六年” (26 năm), và “这一天” (ngày hôm nay), những con số có dính dáng đến “1989” hoặc “89” và “6/4” cũng đều bị loại khỏi phạm vi truy cập. Thậm chí những dịch vụ tài chính (chẳng hạn như chuyển tiền, rút tiền) mà trong đó những con số này được sử dụng dẫu chỉ ngẫu nhiên cũng bị từ chối.

Chính quyền Trung Quốc chẳng khác gì một kẻ mắc chứng hoang tưởng kinh niên, đa nghi hơn Tào Tháo cả nghìn lần. Hay nói như anh chàng "luật sư chân đất" Trần Quang Thành — người đã từng bất chấp mọi gian nan để tranh đấu cho quyền lợi của giai cấp bần cố nông Trung Quốc và hiện đang sống lưu vong tại Mỹ — họ sợ ánh sáng chân lý: "Cho đến hôm nay, đảng cộng sản Trung Quốc vẫn không dám thừa nhận sự thật của năm 1989. Họ không muốn để cho người dân biết rõ những gì đã xảy ra trong năm đó — bởi vì họ không muốn lèo lái Trung Quốc đi theo con đường chuẩn mực của dân chủ, tự do, và pháp trị."

Những bản tường trình về ngày kỷ niệm biến cố Thiên An Môn lần thứ 26 này — song song với chiến dịch ngăn chận thông tin số mã của Bắc Kinh — khiến tôi chợt nhớ đến bài thơTiananmen của thi sĩ James Fenton, được sáng tác vội vàng trong cơn phẫn nộ sau khi cuộc thảm sát xảy ra khoảng 10 ngày. Đối với James Fenton, chân lý cộng sản chỉ là một điều bí mật: Phải để trong bóng tôi, phải sơn màu hắc ám, và chôn sâu vào tâm khảm. Bạn không được nói, không được viết, thậm chí không được suy tư về những vết dơ của chế độ, mà trận đại đồ sát Thiên An Môn chỉ là một trong muôn vàn thối hôi.

Xin gởi đến các bạn bản dịch và nguyên văn bài thơ, nhân mùa truy điệu anh linh những người đã bỏ mình vì công lý và tự do.

Nam Hải Trường Sơn
Viết cho ngày "Lục Tứ" lần thứ 26



Thiên An Môn

Quảng trường Thiên An Môn
Mênh mông và thanh khiết
Nên bạn chẳng hề biết
Người chết đã về đâu

Chẳng thể nào hiểu thấu
Chuyện xảy ra hồi đó
Và bạn không thể có
Quyền nói Thiên An Môn

Bạn không thể tùy ngôn
Hoặc suy nghĩ táo bạo
Rồi cầm bút chấm vào
Mực — viết lách xoi mói

Bạn không có quyền nói
Chuyện xảy ra hồi đó
Ngay giữa quảng trường đỏ
Thiên An Môn mệnh bạc

Lũ đàn ông độc ác
Tuổi già, tai đã điếc
Vẫn sẵn sàng chém giết
Chúng hổn hển hết hơi

Sắp từ giã cõi đời
Rồi như bọn đồng đảng
Chúng sẽ được quốc táng
Nằm ngay ngắn trang nghiêm

Để toàn dân tưởng niệm
Giữa lòng Thiên An Môn
Đúng phong cách chí tôn
Thêm một tuồng gian dối

Đắp vào đống thối hôi
Chất thành ngọn đồi rác
Bởi lũ người độc ác
Để tẩy rửa máu tanh

Và ngụy tạo yên lành
Cho đúng nghĩa Thiên An
Sự thật đối với bạn
Chỉ là bí mật thôi

Phải để trong bóng tối
Phải sơn màu hắc ám
Chôn sâu vào tâm khảm
Dấu kỹ mọi chi tiết

Cho đến khi bạn biết
Ngày chân lý trở lại
Trong nắng ấm ban mai
Theo nhịp bước hùng hồn

Quảng trường Thiên An Môn
Mênh mông và thanh khiết
Nên bạn chẳng hề biết
Người chết đã hy sinh

Chẳng hiểu rõ tận tình
Thời điểm họ quay về
Dẫu tháng ngày lê thê
Hy vọng vẫn trường tồn

Quảng trường Thiên An Môn!
Hãy thức tỉnh cơn mê!
Và đợi họ quay về!
Thiên An Môn vạn tuế!

Nam Hải Trường Sơn dịch
Toronto, 4 tháng 6, 2015


=================
Nguyên tác tiếng Anh:
=================

Tiananmen

Tiananmen
Is broad and clean
And you can’t tell
Where the dead have been
And you can’t tell
What happened then
And you can’t speak
Of Tiananmen.

You must not speak.
You must not think.
You must not dip
Your brush in ink.
You must not say
What happened then,
What happened there.
What happened there
In Tiananmen.

The cruel men
Are old and deaf
Ready to kill
But short of breath
And they will die
Like other men
And they’ll lie in state
In Tiananmen.

They lie in state.
They lie in style.
Another lie’s
Thrown on the pile,
Thrown on the pile
By the cruel men
To cleanse the blood
From Tiananmen.

Truth is a secret.
Keep it dark.
Keep it dark.
In our heart of hearts.
Keep it dark
Till you know when
Truth may return
To Tiananmen.

Tiananmen
Is broad and clean
And you can’t tell
Where the dead have been
And you can’t tell
When they’ll come again.
They’ll come again
To Tiananmen.

By James Fenton
Hong Kong, June 15, 1989


[ Đọc Tiếp ]

Ngày 29 tháng 05 năm 2015

Kẻ Cắp Gặp Bà Già



Thế là cuối cùng các nhà chiến lược quân sự của Hoa Kỳ đã đi đến quyết định phải bày tỏ thái độ cứng rắn đối với Bắc Kinh trong vấn đề Biển Đông. Vào ngày 13 tháng 5, Ngũ Giác Đài đệ trình lên Tổng Thống Obama một số kế hoạch cụ thể để trực tiếp thách thức ý đồ bành trướng của Trung Quốc trên vùng biển này. Trong đó, điều đáng nói hơn cả là kế hoạch đưa chiến hạm tiến vào khu vực 12 hải lý xung quanh các hòn đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang xây dựng bất hợp pháp tại Trường Sa và thường xuyên tiến hành nhiều phi vụ quân sự trên không phận của chúng để bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc và khẳng định quyền tự do hàng hải và hàng không của Hoa Kỳ.

Tổng Thống Obama đã phê chuẩn các kế hoạch này nhanh chóng hơn dự liệu của nhiều người. Chỉ một tuần sau đó, vào ngày 21 tháng 5, hải quân Hoa Kỳ đã đưa ngay một chiếc P-8A Poseidon -- máy bay trinh sát biển và săn lùng tàu ngầm thuộc loại tối tân nhất của hải quân Hoa Kỳ -- vào không phận trên ba hòn đảo nhân tạo của Trung Quốc. Phi vụ trinh sát lần này đặc biệt có sự tháp tùng của một khách mời dân sự là ký giả Jim Sciutto của đài CNN. Chiếc P-A8 Poseidon bay ở độ cao chỉ khoảng 4,5 km và lập tức nhận được cảnh báo của hải quân Trung Quốc yêu cầu rời khỏi không phận. Phi hành đoàn Hoa Kỳ đáp trả là họ "đang hoạt động trên không phận quốc tế." Hải quân Trung Quốc tiếp tục cảnh báo đến 8 lần nhưng lần nào cũng bị từ chối và điều đó, theo báo cáo của Jim Sciutto, đã khiến phía Trung Quốc "điên tiết."

Tuy cực kỳ phẫn nộ nhưng hải quân Trung Quốc chẳng dám làm một điều gì tại hiện trường ngoài việc hét vào máy vô tuyến điện. Chiếc P-8A Poseidon cứ bay tà tà để quay chụp đầy đủ các hoạt động bên dưới rồi mới chịu bỏ đi. Theo lẽ thường, thông tin tình báo là bí mật quân sự, nhưng lần này Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ đã cho phép đài CNN công bố các hình ảnh và âm thanh thu thập được trong chuyến trinh sát này. Việc sử dụng một hãng truyền thông lớn như CNN để quảng bá tin tức là một chiến thuật quan trọng trên mặt trận PR -- vừa cho toàn thế giới biết hành vi bá đạo của Trung Quốc vừa thể hiện quyết tâm của chính phủ Hoa Kỳ trong việc đeo đuổi một lập trường mới và cứng rắn hơn tại Biển Đông.

Bấy lâu nay Trung Quốc chỉ quen thói bắt nạt các nước láng giềng yếu thế hơn mình. Bây giờ bỗng dưng Chú Chệt bị Chú Sam ngang nhiên sấn vào nhà túm cổ áo, đuổi chẳng chịu đi. Tuy rất cay cú vì bị mất thể diện, nhưng cũng như đám binh lính ở ngoài biển đảo, giới lãnh đạo tại Bắc Kinh chẳng biết làm gì hơn ngoài việc đánh võ... mồm. Y chang như dự đoán của các tướng lãnh Hoa Kỳ, vào ngày 25 tháng 3, tờ Hoàn Cầu Thời Báo -- cái loa để la làng của Trung Nam Hải -- lại hung hăng tuyên bố "không sớm thì muộn đụng độ quân sự sẽ xảy ra nếu Hoa Kỳ cứ đòi hỏi Trung Quốc chấm dứt việc xây đảo" và khểnh mũi chê bai Hoa Kỳ chỉ là một "con cọp giấy" nên nếu chiến tranh xảy ra thì Chú Sam nhất định sẽ thất thế trước "sự kiên tâm và bền gan" của Trung Quốc. Chẳng có gì mới mẻ, bản "oai hùng ca" này đã được chơi đi chơi lại sờn cả đĩa rồi (xin nói thêm "oai hùng ca" tức là "歪雄歌" trong tiếng Hán và ở đây chữ "oai" nên hiểu là bất chính hay gian tà).

Một bình luận gia Đài Loan khen rằng các nhà chiến lược quân sự Mỹ đã học kỹ và làm đúng theo phương châm của người Tàu: "Dĩ kỳ nhân chi đạo hoàn trị kỳ nhân chi thân" -- tức là trừng trị người khác bằng cách lấy phương pháp người đó đã dùng để áp dụng vào chính bản thân họ. Nhìn vào hành vi thực tiễn, đây là một nhận định rất chính xác, nhưng phảng phất hình như nó còn bao hàm một niềm tự hào dân tộc quá lố. Khen nhưng thực sự là muốn chê: Tuy không thể chiếm hết toàn bộ Biển Đông làm của riêng, nhưng Trung Quốc là nước duy nhất có độc quyền về binh pháp và cách hành xử trên trường quốc tế. Bởi thế, muốn đánh Tàu, Mỹ cũng phải học theo chiến lược của Tàu.

Đồng ý, thành ngữ này đã có từ thời nhà Tống, bắt nguồn từ câu "Cố quân tử chi trị nhân dã, dĩ kỳ nhân chi đạo hoàn trị kỳ nhân chi thân" trong cuốn Trung Dung Tập Chú của Chu Hy (1130-1200). Cứ giả định luôn là các nhà chiến lược quân sự Mỹ rất thông thạo lịch sử và văn hóa Tàu hay chí ít cũng đã đọc qua các tác phẩm của Chu Hy. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ nhất định phải hành xử theo kiểu Tàu. Chắc chắn nhà bình luận này cũng biết rằng người Mỹ rất ưa dùng một câu thành ngữ có ý nghĩa tương tự là: "Give someone a taste of his own medicine," tức là cho kẻ ác nếm mùi thuốc độc của hắn. Câu nói nôm na và thông dụng này kỳ thật có một lịch sử rất dài lâu. Phụ thân nó là nhà ngụ ngôn Aesop (620-564 TCN) của thời cổ Hy Lạp -- ở Tàu người ta gọi là thời Xuân Thu, nhưng cần lưu ý rằng khi Aesop chết thì Khổng Tử (551-479 TCN) vẫn chưa ra đời. Nếu học, thì người Mỹ ắt phải học theo thành ngữ của mình trước chứ. Chẳng lẽ họ không có lòng tự hào dân tộc sao?

Có người cho rằng kẻ ăn hiếp người phen này bị người ăn hiếp. Cách hình dung này cũng không hoàn toàn đúng. Cái ăn hiếp của Tàu Cộng dựa trên cuồng vọng bá quyền sô-vanh và chủ nghĩa dân tộc lưu manh. Cái ăn hiếp của Hoa Kỳ chỉ nhắm vào mục đích duy trì trật tự và công bằng cho thế giới dựa trên luật pháp quốc tế. Một bên là đạo tặc, một bên là đạo lý, cách nhau một trời một vực, không thể gộp vào cung bậc chung để so sánh.

Mặc kệ Bắc Kinh đang la lối om sòm, vào ngày 28 tháng 5 tại Hawaii, trong buổi lễ bàn giao quyền chỉ huy Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương của quân đội Hoa Kỳ, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Ashton Carter đã đích thân lên tiếng chỉ trích các hoạt động của Trung Quốc tại Biển Đông bằng những lời lẽ mà giới quan sát cho là rất mạnh mẽ và không nhân nhượng. Ông Ashton Carter nhắc nhở Trung Quốc "chớ nên nhầm lẫn về điều này: Hoa Kỳ sẽ bay, lái tàu và hoạt động tại bất cứ nơi nào mà luật pháp quốc tế cho phép, như chúng tôi vẫn làm như vậy ở khắp nơi trên thế giới." Đồng thời ông Bộ Trưởng Hoa Kỳ còn cứng rắn kêu gọi Trung Quốc phải ngưng ngay những hoạt động xây đảo nhân tạo và nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ kiên quyết phản đối việc quân sự hóa các địa mạo đang nằm trong tình trạng tranh chấp tại Biển Đông.

Tại sao người Mỹ có thể "lý trực khí tráng" đến như thế? Như đã gợi ý ở trên, kỳ thật câu trả lời rất đơn giản: Bởi vì Hoa Kỳ đứng về phía chính nghĩa để duy trì trật tự quốc tế, tạo kiều kiện cho tất cả các nước cùng xây dựng hòa bình và thịnh vượng. Về mặt pháp lý, câu trả lời đã được ghi rõ trong văn bản UNCLOS (tên viết tắt của United Nations Convention on the Law of the Sea, tức là Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển trong tiếng Việt). Cụ thể, Điều 60 (7) và Điều 60 (8) của UNCLOS có thể biện minh cho lập trường của Hoa Kỳ và đồng thời nêu bật hành vi phi pháp của Trung Quốc, như sau:

60 (7). Đảo nhân tạo, thiết bị và cấu trúc cũng như các khu vực an toàn xung quanh chúng sẽ không được phép xây dựng nếu điều đó có thể gây trở ngại cho việc sử dụng các tuyến đường biển đã được thừa nhận là thiết yếu cho quá trình hàng hải quốc tế.

60 (8). Đảo nhân tạo, thiết bị và cấu trúc không có địa vị của đảo [tự nhiên]. Chúng không có lãnh hải riêng và sự tồn tại của chúng không có tác dụng gì đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa.
Nếu phải chọn một câu châm ngôn để kết thúc bài viết thì xin lỗi, cả hai câu thành ngữ nêu trên của Chú Chệt và Chú Sam đều không hội đủ điều kiện. Người Việt có một câu tục ngữ rất bình dân nhưng theo tôi nó là ứng viên thích hợp nhất trong trường hợp này:

Kẻ cắp đã gặp bà già.

Nam Hải Trường Sơn
Bên bờ Biển Động
29 tháng 5, 2015

[ Đọc Tiếp ]

Ngày 11 tháng 05 năm 2015

Lý Quang Diệu: Yêu Và Hận



Hàng chục ngàn người dân Singapore đội mưa xếp hàng dài hơn 15 km để tiễn đưa đấng “quốc phụ” của họ về nơi an nghỉ cuối cùng. Chiếc chiến xa chở linh cữu Lý Quang Diệu từ từ diễu qua các đường phố chính của Quốc Đảo Sư Tử dưới bầu trời rỉ rả, u ám. Trong số khoảng hơn 30 yếu nhân đại diện cho 25 quốc gia đến điếu tang có nhiều khuôn mặt quen thuộc như Bill Clinton, Henry Kissinger, Tony Abbott, Shinzo Abe, Nerenda Modi, Hun Sen, Lý Nguyên Triều, và Nguyễn Tấn Dũng. Tang lễ tuy đơn giản nhưng rất trang trọng và bấy nhiêu đó cũng đủ tạo ấn tượng “quang tông diệu tổ” cho gia đình họ Lý — quả thật rất xứng đáng với cái tên "Quang Diệu" mà cha mẹ đã đặt cho.

KHÔNG CÙNG ĐẲNG CẤP

Tuy nhiên, trong một ý nghĩa sâu xa hơn, so với tang lễ của Nelson Mandela vào cuối năm 2013, tang lễ của Lý Quang Diệu có thể nói là tương đối ảm đạm. Chỉ riêng số lượng chính khách quốc tế đến tham gia tang lễ của Nelson Mandela chí ít cũng phải có trên 600 người — tức là nhiều gấp 20 lần — bao gồm hơn 90 vị nguyên thủ quốc gia. Lần đó, Thủ Tướng David Cameron dẫn đầu một phái đoàn đại biểu chính phủ Anh Quốc bao gồm 3 cựu thủ tướng cùng nhiều bộ trưởng và dân biểu đến Nam Phi điếu tang; ngoài ra còn có thêm Hoàng Tử Charles đại diện cho phía Hoàng Gia. Lần này, Anh Quốc chỉ cử một mình ông William Hague đến điếu tang và điều này khiến một số chính khách Singapore bất bình, đặc biệt là khi xét đến mối quan hệ lịch sử gắn bó giữa Singapore và Anh Quốc. William Hague là Quốc Vụ Khanh Thứ Nhất — một chức vị chỉ tương đương với bộ trưởng.

Nhưng Anh Quốc không phải là nước duy nhất bày tỏ thái độ “đối xử phân biệt” trong hai tang lễ có tầm cỡ quốc tế này. Canada cũng thế. Hoa Kỳ cũng thế. Còn Đức, Pháp, Ý và Tây Ban Nha thì càng tệ hơn, ngay cả một phái đoàn cấp bộ trưởng cũng không có mặt tại Singapore để điếu tang Lý Quang Diệu. Nói chung, hầu hết các nước khác cũng thế, không hẹn trước nhưng tất cả đều đồng loạt hành động như nhau.

Thông điệp mà họ muốn triển hiện qua động thái ngoại giao tinh tế này là: Lý Quang Diệu không thể nào sánh với Nelson Mandela — một nhà tranh đấu vì tự do và dân chủ thực sự. Hai người thuộc hai đẳng cấp khác nhau, bởi thế đãi ngộ cũng phải khác nhau. Thái độ của tất cả các nước này mang nặng ý nghĩa nghi thức ngoại giao chứ không phải là biểu hiện của một niềm ai cảm và kính mến tự đáy lòng.

Chỉ trong vòng 50 năm, từ một hòn đảo nhỏ bé, nghèo nàn và lạc hậu, Singapore đã vươn mình trỗi dậy để trở thành một đất nước phồn vinh và hiện đại, đứng hàng đầu thế giới trong nhiều lãnh vực quan trọng. Đó là một kỳ tích hiếm có. Và nỗ lực của Lý Quang Diệu trong tiến trình chuyển hóa này phải đáng được tuyên dương. Nhưng nhân dân Singapore đã phải trả một cái giá rất đắt về mặt chính trị và xã hội cho thành tựu kinh tế này.

Du khách đến viếng thăm Singapore chắc chắn sẽ hài lòng với những con đường khang trang, những công viên kỳ thú, những khách sạn tráng lệ, những căn nhà chọc trời hoằng vỹ, và một hệ thống giao thông công cộng rất thuận tiện. Nhưng mặt tiền lộng lẫy ấy không thể che lấp cấu trúc nguy hại ở đằng sau mà Lý Quang Diệu đã suốt đời gầy dựng và cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng vẫn cứ dương dương tự đắc: một chính thể độc tài chuyên chế với toàn bộ quyền lực nằm trong tay Đảng Hành Động Nhân Dân do chính ông ta sáng lập. Singapore là một ví dụ điển hình của chế độ “dân chủ phi tự do” — “illiberal democracy” — tức là có vẻ dân chủ về mặt hình thức nhưng thực chất là độc chuyên.

THỦ ĐOẠN CHÍNH TRỊ

Con đường quyền lực của Lý Quang Diệu được xây dựng bằng nhiều tráo trở kiểu Hồ Chí Minh. Lúc mới đặt chân lên chính đàn Singapore Lý Quang Diệp gia nhập khối tự do để tạo uy tín, nhưng rồi nhanh chóng trở mặt quay sang hợp tác với phe khuynh tả để tiêu diệt khối tự do. Sau khi đã giành được chính quyền thì Lý Quang Diệu lại tống hết toàn bộ chính khách khuynh tả và đảng viên cộng sản vào tù, không một chút nương tay. Những thủ đoạn quyền thuật này được Lý Quang Diệu kể lại rõ ràng từng chi tiết trong cuốn hồi ký The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew. Khi được tờ New York Times phỏng vấn vào năm 2010, Lý Quang Diệu đã tự hào xác nhận rằng: “Tôi đã phải làm nhiều điều kinh tởm, như nhốt người ta vào tù mà chẳng cần xét xử gì cả.”

Những ngón nghề gian xảo này càng ngày càng trở nên tinh tế và tất cả đều được tiến hành trên danh nghĩa “dân chủ” và “pháp trị” giả hiệu. Lý Quang Diệu củng cố quyền lực bằng cách cứ liên tục “vẽ kỳ giông” — tức là thường xuyên tái phân bố ranh giới của từng khu tuyển cử với mục đích tập trung phiếu ủng hộ Đảng Hành Động Nhân Dân và phân tán phiếu của phe đối lập.

“Vẽ kỳ giông” hay đúng hơn là “vẽ kỳ giông họ Gerry” là hai phiên bản tiếng Việt tôi dùng để dịch động từ “gerrymander” trong tiếng Anh. “Gerrymander” là một thuật ngữ chính trị ra đời vào năm 1812 sau khi Thống Đốc Elbridge Gerry của tiểu bang Massachusetts ký tên để thông qua dự luật vẽ lại các khu tuyển cử thượng nghị sĩ của tiểu bang theo chiều hướng chỉ có lợi cho đảng của ông ta. Sau khi vẽ xong, có bản đồ của một khu tuyển cử bị vặn vẹo đến độ biến thành hình dạng của một con kỳ giông (salamander). Từ đó, Hoa Kỳ có thêm một loài kỳ giông mới thuộc họ Gerry và nó đã nhanh chóng trở thành con vật cưng của giới chính trị gia lọc lừa dân chủ tại nhiều nước khác trên thế giới.

Để phòng ngừa tác hại của loài quái vật này, hầu hết các nước dân chủ tự do đều giao trách nhiệm tái phân bố ranh giới khu tuyển cử cho một cơ quan độc lập hoặc một tổ chức đa đảng. Nhưng tại Singapore, Cục Tuyển Cử là một cơ quan trực thuộc Văn Phòng Thủ Tướng và kết quả hiển nhiên là cơ quan này chỉ vẽ lại bản đồ tuyển cử theo ý muốn của thủ tướng tại nhiệm. Đây chính là “bí quyết” để Lý Quang Diệu và Đảng Hành Động Nhân Dân có thể chấp chính dài hạn dưới cái mác dân chủ. Bởi thế, trong kỳ tổng tuyển cử mới nhất của Singapore (vào năm 2011), tuy tổng số phiếu ủng hộ Đảng Hành Động Nhân Dân là 60% và phe đối lập là 40%; nhưng trong 87 ghế của Quốc Hội, số dân biểu đắc cử của Đảng Hành Động Nhân Dân cao đến mức 93% (81 ghế) và số dân biểu đắc cử của phe đối lập chỉ có 7% (6 ghế).

Với “Quốc Hội Kỳ Giông” hoàn toàn nằm trong quyền thao túng của mình, kế hoạch tiếp theo của Lý Quang Diệu là dùng chiêu bài “pháp trị” để đàn áp và bịt miệng giới bất đồng chính kiến bằng cách hình sự hóa mọi hoạt động chính trị của phe đối lập. Biểu tình (hoặc diễn thuyết nơi công cộng) có thể bị buộc tội “nhiễu loạn trật tự xã hội.” Dùng ngôn từ có tính sỉ vã hay xúc phạm là hành vi mang tính “sách nhiễu” và “khiêu khích” hình sự. Tụ họp thành đám đông ở nơi công cộng có thể bị ghép tội “lưu manh.”

Thêm vào đó, Lý Quang Diệu và Đảng Hành Động Nhân Dân thường xuyên sử dụng thủ đoạn tố tụng dân sự để khởi kiện các đối thủ chính trị (cũng như các cơ quan truyền thông không chịu nịnh hót) về tội phỉ báng hay bôi nhọ — với một tỉ lệ thắng kiện đạt mức hoàn hảo: 100%. Ngành tư pháp Singapore thường bị phê phán là không độc lập vì tất cả các thẩm phán đều là bộ hạ thân tín do Lý Quang Diệu (và hai người kế vị) bổ nhiệm. Nhưng quan trọng không kém là luật phỉ báng tại Singapore được soạn thảo với mục đích chính là để bịt miệng phe đối lập và giới truyền thông không thân thiện.

Ngoại trừ Singapore, tại tất cả các nước có hệ thống pháp luật bắt nguồn từ hệ thống thông luật Anh, luật phỉ báng được xây dựng dựa trên sự cân bằng hai giá trị có khả năng xung đột là bảo vệ thanh danh cho người này nhưng không giới hạn quyền tự do ngôn luận của người khác. Bởi thế tại các nước này, luật phỉ báng cho phép bị cáo sử dụng một số đặc quyền miễn trừ trách nhiệm để bào chữa trong các trường hợp như truyền bá thông tin vì lợi ích công cộng và tranh luận chính trị. Nhưng tại Singapore tất cả những đặc quyền này đều bị xóa bỏ để tạo điều kiện cho nguyên cáo dễ thành công. Vì các khoản nợ bồi thường phỉ báng lúc nào cũng quá lớn nên sau khi thua kiện nhiều chính khách đối lập đều cháy túi và bị tuyên bố phá sản. Và theo luật tuyển cử của Singapore, những người đang ở trong tình trạng phá sản không được phép tham gia tranh cử. Như vậy có thể thấy rõ, tại Singapore luật phỉ báng và luật phá sản là hai công cụ song sinh để đảng cầm quyền loại phe đối lập ra khỏi chính trường.

BẤT CÔNG XÃ HỘI VÀ KINH TẾ

Về mặt Tổng Sản Phẩm Quốc Nội tính theo đầu người (GDP per capita), Singapore thường xuyên được xếp vào danh sách 10 nước đứng đầu thế giới. Nhưng sự giàu có vật chất này không mang lại niềm vui cho người dân. Theo một cuộc điều tra gần đây của công ty Gallup thì Singapore là nước “thiếu lạc quan và chán nản nhất” trong số 148 nước mà công ty này đã tiến hành thăm dò dư luận. Nhưng hiện tượng “vô địch thiên hạ” trong lãnh vực “thiếu hạnh phúc” của người dân Singapore không phải là điều đáng ngạc nhiên nếu bức màn lộng lẫy bên ngoài được vén lên.

Tỉ lệ dân số sống dưới ngưỡng nghèo tại Singapore là 28% — một con số thuộc về Thế Giới Thứ Ba — cao hơn cả Lào (27%), Philippines (26%), Việt Nam (16%), và sắp đuổi kịp Campuchia (30%). Singapore dẫn đầu các nước phát triển về khoảng cách giàu nghèo với chỉ số Gini là 45%, trong khi đó chính phủ Singapore chỉ chi tiêu khoảng 17% GDP — mức thấp nhất trong các nước này — và chưa bằng nửa mức chi tiêu của hai nước áp chót là Thụy Sĩ (34,7% GDP) và Úc (35,4% GDP). Như vậy, tuy nhìn tổng thể Singapore là một nước giàu có, nhưng cái giàu có ấy không được chia đều mà phần lớn chỉ tập trung ở tầng lớp thượng lưu, và điều càng đáng quan ngại hơn là chính phủ không tích cực giải quyết vấn đề bất bình đẳng kinh tế bằng cách tái phân bố nguồn tài phú của quốc gia qua các chính sách chi tiêu và phúc lợi xã hội để giúp đỡ người nghèo.

Trong năm 2010, tổ chức Human Rights Watch đã đánh giá tình trạng nhân quyền tại Singapore một cách thẳng thừng như sau: “Singapore là một ví dụ đạt tiêu chuẩn giáo khoa về một nhà nước đàn áp chính trị.” Trong năm 2015, tổ chức Reporters Without Borders xếp Singapore vào hạng thứ 153 trong số 180 nước về mức độ tự do báo chí — tệ hơn cả Miến Điện, Campuchia, hoặc Ethiopia và gần bằng Iraq, Lybia, hoặc Pakistan. Về mức độ tự do dân sự và chính trị nói chung, theo thang điểm từ 1 (tốt nhất) đến 7 (tệ nhất) của tổ chức Freedom House thì trong năm 2014 chỉ số tự do của người dân Singapore là 4.0 — nằm dưới mức trung bình — tệ hơn Bangladesh (3.5), bằng Thái Lan (4.0) và chỉ khá hơn Pakistan (4.5) một chút xíu.

HÂM MỘ VÀ CĂM HỜN

Sự trỗi dậy đầy ấn tượng của nền kinh tế Singapore đã khiến nhiều người lóa mắt và đồng thời cũng là yếu tố đưa đẩy Lý Quang Diệu lên địa vị của một nhân vật huyền thoại. Đối với phần lớn quần chúng Singapore, ông ta là một vị anh hùng vĩ đại, một đấng quốc phụ khả kính. Điều này rất dễ hiểu vì đó là biểu hiện của lòng tự hào dân tộc — có nhiều cảm tính hơn lý tính. Nhưng nhiệt triều sùng bái Lý Quang Diệu đã vượt biên và lan tràn ra hải ngoại — cảm tính có, lý tính cũng có nhưng phần lớn chỉ dâng trào từ một bến bờ vô tri. Điều đáng nói là giới “siêu hâm mộ” phần lớn là lãnh tụ của các nước độc tài chuyên chế, trong khi đó giới “siêu căm hờn” lại chính là đám nhóc choai choai của thế hệ 9x đang sống với nhiều nỗi bức xúc tại Singapore.

Trong đám môn đồ nổi tiếng của Lý Quang Diệu, người đáng được xếp hàng đầu chắc chắn phải là Đặng Tiểu Bình. Trong chuyến công du Singapore vào tháng 11 năm 1978 để bái sư học nghệ, Đặng Tiểu Bình cảm thấy rất hân hạnh khi được Lý Quang Diệu truyền thụ cho bí quyết xây dựng một nền kinh tế phồn vinh nhưng đồng thời có thể giữ vững chế độ độc đảng chuyên chính. Chỉ một tháng sau đó, trong kỳ đại hội TƯ đảng lần thứ 3, khóa 11, vào cuối năm 1978, Đặng Tiểu Bình đã thực hiện được hai chuyện lớn, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp chính trị của mình là (1) tước đoạt quyền lực của Hoa Quốc Phong và (2) lập tức cho tiến hành “cải cách khai phóng” — tức là chính sách “cởi mở kinh tế, phong bế chính trị” theo “mô hình Singapore” của thầy Lý Quang Diệu.

13 năm sau, nối gót sư huynh Đặng Tiểu Bình, vào đầu năm 1991, Võ Văn Kiệt cũng đích thân sang Singapore mời thầy về Việt Nam tiêu tai giải nạn. Lý Quang Diệu ghi lại chuyện này trong cuốn From Third World to First: The Singapore Story 1965-2000, như sau: “Tuy không còn là thủ tướng, chúng tôi vẫn gặp nhau tại bữa tiệc chiêu đãi do người kế nhiệm tôi là Ngô Tác Đống chủ trì. Khi bữa tiệc sắp tàn, ông Kiệt bước lại phía tôi, ôm quàng lấy tôi như kiểu cách mà những người cộng sản thường làm, rồi hỏi liệu tôi có thể giúp đỡ Việt Nam không? Tôi hỏi, bằng cách nào? Bằng cách trở thành cố vấn kinh tế cho họ. Tôi lặng người đi." Bị thầy từ chối nhưng Võ Văn Kiệt vẫn kiên quyết nài nỉ, tiếp tục gởi thêm nhiều lá thư mời mọc. Hơn một năm sau, vào tháng 4 năm 1992, Lý Quang Diệu mới đồng ý đến thăm Việt Nam, nhưng không phải với tư cách cố vấn, mà chỉ muốn “cùng thảo luận và góp ý kiến” với chính phủ Việt Nam để tìm phương hướng chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.

Tương tự, giới lãnh đạo Nga và một số nước khác trong khối Liên Xô cũ cũng mê tít thò lò. Nhiều người muốn dựng tượng Lý Quang Diệu để thay thế cho tượng Lê-nin. Vladimir Putin trao tặng Huy Chương Danh Dự để làm quà sinh nhật nhân dịp Lý Quang Diệu vừa tròn 90 tuổi. Trong thời gian làm tổng thống bù nhìn do Putin giật dây, Dimitry Medvedev thường xuyên rêu rao rằng Singapore là mô hình mà Nga phải noi theo bằng mọi cách, trong khi nhiều cố vấn thân tín đã kêu gọi ông ta nên “trở thành Lý Quang Diệu của Nga.”

Viktor Yanukovich — một con rối khác của Putin — lúc còn làm tổng thống Ukraine cũng từng cố gắng che đậy “chế độ đạo tặc” của mình bằng cách ví von nó với Singapore (về “chế độ đạo tặc” tại Ukraine, xem bài “Kleptocracy at the Root of Ukraine's Problems” của Jeffrey Young, được đăng tải trên trang mạng tiếng Anh của đài VOA vào ngày 4 tháng 3, 2014). Tại Georgia, Mikhail Saakashvili cũng dùng “mô hình Singapore” để biện minh cho chế độ độc đảng và chính sách đòi hỏi người dân thắt lưng buộc bụng để xây dựng kinh tế mà cuối cùng chỉ dẫn đến thất bại. Các cuốn hồi ký của Lý Quang Diệu không chỉ là sách gối đầu giường của Saakashvili mà còn được phân phát rộng rãi như kinh thánh — ăn khách hơn cả bản Tuyên Ngôn Cộng Sản trong thời kỳ Lê-nin vẫn còn tại thế.

Khi Lý Quang Diệu chết, nhiều người dân Singapore chỉ âm thầm hoan hỉ vì chẳng mấy ai có can đảm để làm điều mà chàng thiếu niên 16 tuổi Amos Yee đã làm: công khai nói lên những sự thật lõa lồ về Lý Quang Diệu và chính thể con đẻ của ông ta. Trong một đoạn video được tải lên mạng Youtube vào ngày 27 tháng 3, 2015, Amos Yee chỉ trích rằng Lý Quang Diệu là “một con người đáng kinh tởm” và “một nhà độc tài được tán tụng quá mức đã thành công lừa được hầu hết mọi người trên thế giới để họ tin rằng ông ta là một người dân chủ.” Hai hôm sau — đúng vào ngày cử hành tang lễ của Lý Quang Diệu — Amos Yee bị chính quyền Singapore bắt và truy tố nhiều tội hình sự. Tuy ngôn từ có phần bất nhã nhưng nói chung những luận điểm của chàng thiếu niên này rất có sức thuyết phục.

Nếu chuyện này xảy ra ở một nước tự do dân chủ chân chính như Hoa Kỳ hoặc Canada, những nội dung ấy không thể cấu thành bất cứ một tội hình sự nào và nếu đối tượng bị phê phán là Barack Obama hay Steven Harper thì họ chỉ có nước... cười trừ. Hiệu quả phản tác dụng của việc bắt giam và truy tố Amos Yee là nó đã trở thành bằng cớ chứng minh những gì anh ta nói là đúng.

Amos Yee không phải là thiếu niên duy nhất công khai bày tỏ bất bình đối với Lý Quang Diệu. Năm ngoái, Steph Micayle, nột thiếu nữ cùng trang lứa, cũng dùng Youtube để quảng bá một đoạn video mang tên: “Tại sao tôi không hãnh diện làm người Singapore?” Trong đoạn video này cô ta đã chỉ trích luật kiểm duyệt quá khắt khe của Singapore khiến sức sáng tạo của công dân trở nên còi cọc, trong khi đó “phần lớn người Singapore ai cũng có đầu óc nhỏ nhoi và chỉ biết phục tùng.” Những yếu tố tiêu cực này khiến cô ta chán nản muốn rời bỏ Singapore và không bao giờ trở lại.

BÀI HỌC CHO VIỆT NAM

Trong khi giới vị thành niên Singapore — chỉ 16 hoặc 17 tuổi như Amos Yee và Steph Micayle — hiểu rất rõ về bản chất của con người Lý Quang Diệu cũng như chế độ “dân chủ phi tự do” của Singapore, nhiều trí thức lão thành lại kính cẩn cúi đầu ngưỡng mộ, tán tụng không hết lời. Giới lãnh đạo cộng sản (tại Việt Nam và Trung Quốc) mê mẩn “mô hình Singapore” là một điều rất dễ hiểu vì mối quan tâm hàng đầu của họ lúc nào cũng xoáy quanh vấn đề củng cố chế độ độc đảng chuyên chính. Nhưng điều lố bịch hơn là những kẻ suốt ngày cứ ra rả đề cao vai trò “khai dân trí” của mình lại có mức nhận thức không bằng đám nhóc choai choai của Singapore.

Tôi cảm thấy buồn cười khi họ tranh nhau ca tụng “nhân cách cao cả” và “đức độ vĩ đại” của Lý Quang Diệu hoặc ví von ông ta với Nelson Mandela. Và khi nghe nói có người muốn trở thành “Lý Quang Diệu của Việt Nam” để xây dựng đất nước theo “mô hình Singapore” tôi thực sự cảm thấy buồn nôn.

Ngay cả về mặt kinh tế, thành tựu của Singapore không phải hoàn toàn bắt nguồn từ cái gọi là "giá trị châu Á" mà chủ yếu là kết quả của việc học theo những sách lược rất hữu hiệu của phương Tây, chẳng hạn như: xây dựng thị trường có sức cạnh tranh, trọng dụng tài năng, đề cao chủ nghĩa thực dụng, bài trừ tham nhũng, phổ cập hóa nền giáo dục, và tinh thông mọi ngành nghề khoa học, kỹ thuật. Hơn thế nữa, Lý Quang Diệu còn lợi dụng khái niệm này để tung ra luận điệu cho rằng chế độ tự do dân chủ phương Tây không thích hợp với nền văn hóa phương Đông. Nhưng đó chỉ là ngôn từ ngụy biện vô căn cứ để bào chữa cho sự tồn tại của chế độ độc đảng chuyên chính.

Chẳng cần đi đâu xa, chỉ nhìn vào Đài Loan, Nam Hàn, và Hồng Kông là chúng ta có thể thấy rõ "giá trị châu Á" và "giá trị phương Tây" chẳng những không mâu thuẫn mà còn có thể kết hợp và bổ sung cho nhau để xây dựng nên những xã hội phồn vinh, có tự do và hạnh phúc chân chính.

Riêng trường hợp Hồng Kông còn nêu bật cái đại họa nguy hiểm khi tự do dân chủ bị độc tài chuyên chính sấn vào quấy phá: Sau khi trở về với "tổ quốc xã hội chủ nghĩa" và bị bàn tay máu của Trung Cộng kềm kẹp, những gì mà thành phố cảng này đã gầy dựng được trong thời Anh thuộc càng ngày càng bị đe dọa trầm trọng. Kết quả mà toàn thế giới đã được chứng kiến tận mắt trong mấy tháng vừa qua là cuộc Cách Mạng Dù do học sinh và sinh viên phát động để bảo vệ cái mà họ gọi là "giá trị cốt lõi" của Hồng Kông" — những giá trị chẳng xa lạ gì đối với người phương Tây, chẳng hạn như bảo vệ nhân quyền, pháp trị, tự do bất đồng chính kiến, và xây dựng một nền văn hóa đa nguyên bên cạnh một chính quyền trong sạch.

"Mô hình Singapore" là một loại nọc độc gây mê mạn tính đang được giới lang băm đóng gói trang nhã và rao bán dưới nhãn hiệu lương dược. Thầy Lý chết đi để lại một đội ngũ môn đồ gian manh chẳng kém — bao gồm Tập Cận Bình, Vladimir Putin, và Nguyễn Phú Trọng — đang năng nổ thực thi chính sách "cởi mở kinh tế, phong bế chính trị." Nhưng sau khi đã bỏ ra nhiều thập kỷ để áp dụng "mô hình Singapore" của thầy Lý, cả Trung Quốc (35 năm) lẫn Việt Nam (25 năm) đều chỉ trở thành những nước tham nhũng, độc tài, và chà đạp nhân quyền đứng hàng đầu thế giới. Tuy kinh tế có phát triển nhưng hố giàu nghèo ngày càng nghiêm trọng. Giới tư bản đỏ lợi dụng quyền chấp chính để cướp đoạt và thao túng hầu như toàn bộ tài sản và tài nguyên của quốc gia cũng như tư sản của người dân.

Thế nhưng vẫn còn có nhiều người muốn kéo dài căn bện trầm kha của Việt Nam bằng cách tiếp tay với đảng cộng sản để tôn sùng Lý Quang Diệu và cổ vũ "mô hình Singapore." Ngược lại, phong trào đòi hỏa táng di sản Lý Quang Diệu đã được phát động ngay trong ngày cử hành lễ hỏa táng di thể của ông ta. Như điếu văn của một trang mạng Singapore đã tuyên bố: "Cái chết của Lý Quang Diệu sẽ mang lại tự do cho người dân."

Tự do dân chủ và phát triển kinh tế không phải là hai đối cực loại trừ nhau mà có thể đồng thời tồn tại để hỗ trợ cho nhau cùng thăng tiến. Đó mới chính là mô hình mà Việt Nam cần học hỏi và áp dụng.

Nam Hải Trường Sơn
Viết cho ngày 30 tháng 4, 2015


[ Đọc Tiếp ]

Ngày 19 tháng 04 năm 2015

Tòa Chưa Tuyên Án, Xin Chớ Đồn Nhảm!



Từ giữa tháng 3, 2015 cho đến nay, có một nguồn tin khiến nhiều người Việt cảm thấy hả hê: "Tòa án quốc tế đã đưa ra phán quyết rằng Đường Lưỡi Bò chín đoạn của Trung Quốc là vô giá trị." Nếu đó là sự thực thì chắc chắn niềm hân hoan của tôi sẽ vượt mức hả hê.

Nhưng trớ trêu thay, cái "vô giá trị" trên thực tế lại chính là nguồn tin giật gân vô căn cứ này. Điều càng lố bịch hơn là nó đang được đăng đi đăng lại rất rôm rả trên các trang mạng xã hội với sự tiếp tay của nhiều vị nhân sĩ trí thức hàng đầu.

Bao hàm trong cái huyên náo ấy là một khối vô tri kệch cỡm. Bởi vì cho đến ngày hôm nay一25 tháng 3, 2015一Tòa Trọng Tài Thường Trực (sau đây tôi sẽ gọi tắt là Tòa Trọng Tài) vẫn chưa đưa ra một phán quyết nào trong vụ án Philippines kiện Trung Quốc về vấn đề Đường Lưỡi Bò trên Biển Đông. Đó chỉ là một tin đồn thất thiệt, một trò nhảm nhí đến độ buồn cười... chẳng nổi.

Động thái mới nhất của Tòa Trọng Tài trong vụ án này là việc công bố Chỉ Thị Trình Tự Số 3 (Procedural Order No. 3) vào ngày 17 tháng 12, 2014. Nói một cách đại khái, Chỉ Thị Trình Tự Số 3 là văn bản chính thức yêu cầu Philippines đệ trình trứ liệu bổ sung (supplementary written submission)一sau khi Trung Quốc tuyên bố phủ nhận quyền tài phán của tòa và không đệ trình trứ liệu phản bác Philippines theo đúng kỳ hạn. Philippines có 3 tháng kể từ ngày công bố chỉ thị để đệ trình trứ liệu bổ sung này. Bạn có thể tham khảo thêm về những chi tiết khác của chỉ thị này qua bản Thông Cáo Báo Chí Số 3 của tòa, theo đường dẫn chính thức này: Press Release No. 3 (xin lưu ý, đây là đường dẫn để tải văn bản này về dưới dạng PDF).

Về phía Philippines, động thái mới nhất của họ là việc đệ trình trứ liệu bổ sung (theo yêu cầu của Chỉ Thị Trình Tự Số 3 nêu trên) vào ngày 16 tháng 3, 2015一một ngày trước hạn chót. Theo quy tắc trình tự của vụ án này thì Trung Quốc có 3 tháng để đệ trình trứ liệu phản bác trứ liệu bổ sung của Philippines, nói cách khác, hạn chót của Trung Quốc trong vấn đề này là ngày 16 tháng 6, 2015.

Kế đến, sau ngày 16 tháng 6, 2015, Tòa Trọng Tài mới bắt đầu thảo luận và xét xử toàn bộ chứng cớ đã được trình bày trước tòa (bao gồm trứ liệu cũng như khẩu biện). Cuối cùng, phán quyết của tòa sẽ được đưa ra trong vòng từ 3 đến 6 tháng sau đó (hoặc có thể lâu hơn vì thời điểm tuyên án là một vấn đề hoàn toàn nằm trong quyền tự do quyết định của tòa, không có hạn chót). Nói cách khác, chúng ta chỉ có thể biết được kết quả của vụ án này sớm nhất là vào giữa tháng 9, 2015, nhưng tôi nghĩ có lẽ phải đợi đến đầu (hoặc giữa) năm 2016.

Ngay bây giờ, mọi tuyên bố rằng "tòa đã phán quyết" điều này hay điều nọ chỉ hoàn toàn là chuyện bịa đặt.

Hầu hết mọi người Việt (có lẽ chỉ trừ ĐCSVN và đám đàn em lúc nào cũng tôn vinh "16 chữ vàng" và "4 tốt") ai ai cũng rất phẫn nộ trước hành vi lưu manh và ngang ngược của Trung Cộng tại Biển Đông (cũng như trong nhiều lãnh vực khác). Chúng ta muốn Philippines thắng kiện. Chúng ta muốn Tòa Trọng Tài tuyên bố Đường Lưỡi Bò không có giá trị pháp lý. Chúng ta muốn có công lý. Đương nhiên!

Nhưng chúng ta không được phép đồng hóa ước ao với thực trạng một cách mù quáng và chủ quan: Tòa chưa tuyên án, chớ nhét lời vào miệng pháp quan, chớ tung tin đồn thất thiệt.

Nhưng biết đâu chừng, có thể... có người lại muốn đánh bại bọn giặc Tàu tại Trung Nam Hải bằng chiến lược làm cho chúng cười vỡ bụng ra mà chết vì sự vô tri thâm hậu của chính mình.

Nam Hải Trường Sơn​
25-3-2015

[ Đọc Tiếp ]
Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn