Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 20 tháng 07 năm 2010

Nguồn Gốc Của Thơ Nhìn Từ Góc Độ Từ Nguyên (2)

Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Của Chữ Thơ

Truy tầm ý nghĩa nội hàm và lịch sử phát triển của chính chữ thơ cũng có thể minh chứng rằng thơ của con người không thể nằm ngoài phạm trù ngôn ngữ. Chữ thơ không phải là tiếng thuần Việt mà là hài âm của chữ thi—một tiếng Hán Việt. Gốc tiếng Hán của chữ thi 詩. Từ góc độ lục thư, là một chữ hình thanh, do hai bộ phận chính là bộ ngônở bên trái (hình) và chữ tự biểu âm ở bên phải (thanh) cấu thành. Như vậy trên bình diện từ nguyên, rõ ràng nền tảng cơ bản của thơ là ngôn ngữ (言), hay nói cách khác, ngôn ngữ là yếu tố cần thiết của thơ. Nhưng ngôn ngữ chỉ là điều kiện cần chứ không đủ để tạo nên thơ bởi vì thơ khác với ngôn ngữ thông thường. Thơ là ngôn ngữ đã được chọn lọc, tài bồi, tôi luyện, âm vận hóa, mỹ hóa, tinh xảo hóa (寺): Thơ là ngôn ngữ nghệ thuật. Như vậy, hiển nhiên lý giải của Khổng Tử và Aristotle về thơ hoàn toàn phù hợp với quan niệm nguyên thủy của cổ nhân.
      Dựa vào cấu trúc ngoại hình của chữ thi một số trí thức trong giới văn học Việt Nam thường đưa ra những nhận định thác ngộ cần phải được cải chính. Chẳng hạn, một vị giáo sư tiến sĩ (đã từng dạy môn Việt Hán bậc trung học đệ nhị cấp trước 1975!) lý luận rằng: “Văn tự hội ý của Trung Hoa thời cổ đã quan niệm rằng, [sic] Thi = Ngôn + Tự (Thơ = Lời + Chùa).[1] Lời phát biểu này tối thiểu có hai điểm sai trái. Thứ nhất, tiếng Trung Hoa (thời cổ hay hiện đại) không phải chỉ đơn giản là một loại văn tự hội ý. Cấu trúc tiếng Trung Hoa chí ít có sáu đặc trưng được gọi chung là lục thư: (1) tượng hình, (2) chỉ sự, (3) hội ý, (4) hình thanh, (5) chuyển chú, và (6) giả tá. Nếu chỉ nói riêng rằng chữ thi là một chữ hội ý thì cũng không đúng vì, như đã giải thích ở trên, nó là một chữ hình thanh. Thứ hai, chữ tự trong chữ thi chỉ bắt đầu manh nha ý nghĩa chùa sớm nhất là từ cuối thời Đông Hán, sau khi Phật giáo du nhập vào Trung Hoa, trước đó trong một khoảng thời gian dài ý nghĩa chùa của nó không tồn tại. Chữ thi cũng xuất hiện trước thời Đông Hán rất lâu, tính sơ, tối thiểu phải trước đó hơn 500 năm vì vào thời Xuân Thu Thi «詩» chính là nhan đề nguyên thủy của bộ Thi Kinh. Bởi vậy nói rằng Thơ = Lời + Chùa chỉ là tri kỳ nhất bất tri kỳ nhị. Dựa trên kiến thức nửa vời về chữ tự mà đoán ý nghĩa của chữ thi thì kết quả tất nhiên cũng chỉ là bán dũng thủy.

Tiến Trình Phát Triển Của Chữ Tự
Thời điểm xuất hiện muộn nhất của chữ tựlà Tây Chu, tức là khoảng 1.050 năm trước Công Nguyên. Dưới cả hai dạng Kim Văn (loại chữ khắc trên đồ đồng, còn  được gọi là Chung Đỉnh Văn) và tiểu triện, chữ tựđều do hai bộ phận chủ yếu cấu thành: phía trên là hình vẽ một cây non chồi lên từ mặt đất về sau biến dạng được viết thành chữ thổ 土 hoặc chữ , và phía dưới là hình vẽ của một cánh tay về sau biến dạng được viết thành chữ thốn . Lúc ban sơ chữ tự dưới dạng danh từ có nghĩa là đồng áng, ruộng rẫy, nơi con người dùng bàn tay canh tác đất đai để trồng trọt, sản xuất nông phẩm duy trì cuộc sống. Dưới dạng động từ tự có nghĩa là tận tâm tận lực vun trồng, bồi dưỡng. 

Khái niệm nguyên thủy về chữ tự
Chữ tự dưới dạng Kim Văn
      Như vậy, trước khi có văn tự cho đến thời Tây Chu, thơ là lời ca tiếng hát của người lao động tay chân. Nói cách khác thơ trong thời kỳ này là những câu hò, điệu hát, bài vè ngắn nhưng có tiết tấu, có vần, có điệu do bách tính lê dân sáng tác trong quá trình canh tác để khích lệ, cổ động nhau, để thư giãn, làm lắng dịu mệt nhọc của thân xác, để chia sẻ bi ai hoan lạc, kinh nghiệm sống, tín ngưỡng, tập quán, để tỏ tình trai gái, nghĩa vợ chồng, lòng bác ái v.v... gọi chung là ca dao. Khi tiếng nói thường dùng hàng ngày không đủ sức để biểu lộ cảm xúc thì nhu cầu trau chuốt, thêm vận, thêm tiết tấu, thêm điệp khúc, nhịp điệu ... tự nhiên sẽ được sáng tạo để cường hóa (nghệ thuật hóa) ngôn từ. Ngoài ra, người xưa còn dùng những phương tiện phi ngôn từ như vỗ tay, nhịp chân, khiêu vũ, đánh trống, thổi kèn ... để đệm nhạc hỗ trợ ca dao. Bởi vậy, tuy bất thành văn nhưng ca dao vẫn có thể lưu truyền mãi với thời gian qua ký ức tập thể của con người nhờ nhạc tính cũng như giá trị tư tưởng của nó.
      Đến khi có văn tự thì thơ bắt đầu tách rời ca dao và trở thành phương thức biểu đạt tâm tình của giới sĩ phu trí thức. Thơ trở thành văn chương bác học,” song hành và phụ trợ cho ca dao truyền miệng của bách tính lê dân. Nhiều bộ phận của ca dao dần dần được ký lục thành văn bản và “văn chương dân gian” vẫn tiếp tục phát triển dưới dạng truyền thống hoặc được triển hiện qua những bài thơ-ca-dao vô danh. 
     Theo nhu cầu phát triển của ngôn ngữ, về sau chữ tự được dùng thêm dưới dạng động từ mang ý nghĩa săn sóc, trông nom, hay chi trì, lo liệu, tức là tiền thân của hai động từ thị trì . Đến đầu đời Hán chữ tự có nghĩa là nơi làm việc và cư ngụ của quan lớn trong triều. Thừa kế chế độ phân quyền của nhà Tần, những quan viên cao cấp tại trung ương nhà Hán cũng bao gồm tam côngcửu khanh. Tam công là (1) thừa tướng (chủ quản chính vụ), (2) thái úy (chủ quản quân vụ), và (3) ngự sử (chủ quản việc giám sát). Cửu khanhbao gồm các chức như thái thường (quản lý việc tế tự, lễ nhạc), thái phó (quản lý xa mã), đại lý (quản lý việc pháp hình), đại hồng lư (quản lý việc lễ tân, chiêu đãi) .... Theo lời sử gia Khổng Dĩnh Đạt của đời Đường thì: Tự Hán dĩ lai, tam công sở cư vị chi phủ, cửu khanh sở cư vi chi tự.[2] Có nghĩa là: Từ đời Hán cho đến nay [đời Đường], chỗ cư ngụ của tam công gọi là phủ, chỗ cư ngụ của cửu khanh gọi là tự. Chẳng hạn như thừa tướng phủ, thái úy phủ, thái thường tự, đại hồng lư tự. 
      Như vậy, tự từ nơi sinh hoạt chung của bách tính lê dân (đồng áng, ruộng rẫy) qua một khoảng thời gian khá dài đã trở thành nơi sinh hoạt của quan lớn trong triều (quan phủ). Sang thời Đông Hán thì ý nghĩa quan phủ của tự lại được nới rộng để chỉ chung nơi làm việc của những người chấp pháp. Theo định nghĩa của Hứa Thận trong Thuyết Văn Giải Tự (cuốn tự điển đầu tiên của Trung Hoa) thì: Tự đình dã, hữu pháp độ giả dã. Tùng thốn.[3] Có nghĩa là: Tự là đình, nơi có (thi hành) luật pháp. Gốc từ bộ thốn. Hình thái của chữ tự cũng được chuyển hóa để phản ánh ý nghĩa mới này. Bởi vậy hai bộ phận cấu trúc nguyên thủy của nó (cây đâm chồi và cánh tay) đã biến thành thổ (trên thực tế được xem là một cách viết khác của chữ ) và thốn . Chữ thốn 寸 có hai nghĩa chính. Một, theo nghĩa đen, dưới dạng danh từ có nghĩa là tấc hoặc gang, dưới dạng động từ có nghĩa là đo lường. Hai, theo nghĩa bóng có nghĩa là suy nghĩ trong lòng, tâm tư (người Trung Hoa thời cổ cho rằng trái tim dài và rộng khoảng một tấc nên dùng chữ thốn theo nghĩa bóng để chỉ trạng thái tâm lý của mình chẳng hạn như phương thốn dĩ loạn tức là tâm trí đã rối loạn, và hai chữ tấc lòng trong tiếng Việt bắt nguồn từ cụm thốn tâm của tiếng Hán). Chữ thốn ở phần dưới tự được dùng để biểu thị ý nghĩa xét đoán, đo lường phép tắc của người chấp pháp (kẻ ra làm quan).
______________________________________
[6]Trần Kiêm Đoàn, tài liệu đã dẫn.
[7]Thời Học Tường (chủ biên), Ngữ Lâm Thú Thoại (3), (Thành Đô: Tứ Xuyên Từ Thư Xuất Bản Xã, 2004), tr. 348.
[8]Hứa Thận, Thuyết Văn Giải Tự, (Từ Huyền [đời Tống] hiệu đính, Bắc Kinh: Trung Hoa Thư Cuộc, 1963), quyển 3 hạ, tr. 67. 

Trở lại phần (1)   Xem tiếp phần (3) 

Tác giả: Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2010 Nam Hải Trường Sơn

4 comments:

Nặc danh nói...

Một nghiên cứu rất công phu và bác hoc. Thi sĩ thật là uyên thâm về Hán học, tôi nhất trí hoàn toàn với nhà thơ rằng thơ là do con người sáng tác và chỉ xuất hiện từ khi có loài người.

Nặc danh nói...

Thơ là ngôn ngữ nghệ thuật.

Nặc danh nói...

Nam Hải Trường Sơn là một con người kỳ lạ. Thơ thì rất lãng mạn, mộng mơ nhưng lý luận lại rất sâu sắc, thâm thúy, và cả hai thứ đều rất độc đáo.

Nặc danh nói...

Nam Hai Trường Sơn nghiên cứu văn chương rất thấu đáo, lý luận rất sắc sảo và thâm thúy; trong thơ tinh rất lãng mạn, dễ thương và thanh cao; ngôn từ trong sáng,điêu luyện; là một thi sĩ đa tài, một nhà lý luận sắc bén. Tôi thật sự khâm phục Nam Hải Trường Sơn và vô cùng yêu quý nhà thơ.

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn