Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 12 tháng 07 năm 2011

Phản Công Bắc Kinh Tại Biển Đông (2)

Vấn Đề Biển Đông

Sáu quốc gia đòi hỏi chủ quyền trên các hải đảo của Biển Đông là: Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, Cộng Hòa Trung Hoa (Đài Loan), Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, và Brunei. Trung Cộng và Đài Loan (hai chính phủ đối đầu của "Trung Quốc") đòi hỏi chủ quyền tại Biển Đông dựa trên danh nghĩa của các tạo tác văn hóa, ám thị văn chương mơ hồ, và hành vi chiếm cứ trắng trợn. Việt Nam cũng đòi hỏi chủ quyền trên tất cả các hải đảo tại Biển Đông, phần lớn là dựa vào cứ liệu lịch sử, hệ quả của việc Nhật Bản từ bỏ chủ quyền trên các tiểu đảo tại Biển Đông trong thời hậu chiến, và quyền thừa kế di sản thông qua các chứng thư biểu thị chủ quyền trên một số tiểu đảo quan trọng tại Biển Đông do thuộc địa Pháp để lại. Phi Luật Tân, Mã Lai, và Brunei đòi hỏi chủ quyền trên tất cả hoặc bộ phận khu vực lưỡi liềm ở phía nam quần đảo Trường Sa, phần lớn là dựa vào Vùng Đặc Quyền Kinh Tế (EEZ) và thềm lục địa tương ứng của mỗi nước. Theo UNCLOS, khu vực EEZ của một quốc gia trải rộng ra khơi 200 hải lý tính từ đường nước cạn tại bờ biển của quốc gia đó. Bản đồ Biển Đông do Trung Quốc xuất bản triển hiện một đường ranh gián đoạn vươn ra đến tận khu vực EEZ của đảo Natuna trên lãnh thổ Nam Dương, do đó có khả năng gia tăng con số các đối tượng tranh chấp lên bảy nước.

Vấn đề này không phải là chuyện pháp lý bí ẩn mà là một mối đe dọa nguy hiểm và gần kề đối với nền kinh tế hoàn cầu cũng như hệ sinh thái của khu vực. Những hải tuyến giao thông trên Biển Đông nối liền châu Âu và châu Á, biến vùng biển này thành một thủy lộ tấp nập nhất thế giới. Gần phân nửa khối lượng vận tải đường biển của thế giới và phần lớn nguồn cung ứng dầu hỏa cho vùng đông bắc Á xuất phát từ Trung Đông đi qua thủy lộ này. Biển  Đông còn dồi dào nguồn hydro-carbon dưới nhiều dạng khác nhau, và việc khai thác toàn bộ những nguồn tài nguyên này đang bị cản trở vì tình trạng biên giới chưa được giải quyết và những hăm he đe dọa quân sự trắng trợn. Cuối cùng, do việc đánh bắt quá mức nên tổng lượng thu hoạch hải sản sút giảm đáng kể, khiến ngư dân phải sử dụng nhiều kỹ thuật táo bạo hơn. Không có một thỏa thuận đa phương nhằm quy định việc đánh bắt trên Biển Đông, nền công nghiệp đánh cá và hệ sinh thái biển đang nhanh chóng tiếp cận hiểm họa.

Những cuộc tranh chấp trên Biển Đông không phải là chuyện pháp lý bí ẩn mà là những mối đe dọa nguy hiểm và gần kề đối với nền kinh tế hoàn cầu cũng như hệ sinh thái của khu vực.

Đòi hỏi của Trung Quốc. Tất cả các nước tranh chấp đều biện minh cho đòi hỏi lãnh hải của họ bằng cách sử dụng các định nghĩa có tầm diễn giải rộng rãi trong các điều khoản của UNCLOS. Tuy nhiên, chỉ riêng Trung Quốc là nước phô diễn một hỗn hợp bao gồm các tuyên bố đòi hỏi chủ quyền có phạm vi rộng lớn; sức mạnh quân sự, chính trị, và kinh tế; một lập trường ngoại giao không nhân nhượng; và một thái độ hung hăng được bộc lộ rõ ràng trong việc mưu cầu những mục tiêu của mình. Sự kết hợp lạ đời của những đặc trưng này đưa Trung Quốc lên địa vị đấu thủ quan trọng nhất trong việc giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ nhưng đồng thời lại biến nó thành chướng ngại lớn nhất trong việc thực thi điều đó.

Khi thương thảo chuyển sang lãnh vực ngoại giao và một biện pháp giải quyết tranh chấp bằng đàm phán, Trung Quốc nằng nặc nhắc nhở các quốc gia tranh chấp khác rằng Biển Đông là lãnh thổ thuộc chủ quyền của Trung Quốc và từ chối đàm phán trừ phi họ thừa nhận chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc. Cho đến hiện tại, chiến thuật của Trung Quốc vẫn là chỉ tham gia đàm phán song phương và tránh né việc phân xử khách quan thông qua thủ tục của UNCLOS hoặc bất cứ đối tượng ngoại cuộc nào khác. Thêm vào đó, Trung Quốc đã đưa ra nhiều tuyên bố và cung cấp nhiều định nghĩa có tầm diễn giải rộng rãi khiến tiến trình giải quyết trở nên cực kỳ phức tạp và thúc đẩy Trung Quốc lao vào con đường đụng đầu với phần thế giới hàng hải còn lại.

Thềm lục địa và tính bất thực dụng của việc vẽ ranh giới bờ biển cho các nước có bờ biển phức tạp và lõm sâu như Na Uy, và các quốc gia quần đảo như Phi Luật Tân hoặc Nam Dương, đã được thừa nhận trong các điều khoản của UNCLOS như Điều 7 ("Đường cơ sở thẳng"), Điều 47 ("Đường cơ sở quần đảo"), và Điều 76 và 77 ("Thềm lục địa"). Những điều khoản này cho phép các nước vạch đường biên giới thẳng qua các hải đảo và địa mạo phức tạp hoặc nằm kề cận nhau ở ven biển nếu chúng không gây trở ngại cho quyền tự do hàng hải theo thông lệ. Nhưng Trung Quốc lại nới rộng những định nghĩa của các điều khoản này bằng cách áp dụng chúng vào các hải đảo và địa mạo ven biển mà họ đòi chủ quyền.

Ủy Ban Thường Vụ của Đại Hội Đại Biểu Nhân Dân Toàn Quốc [Quốc Hội Trung Quốc] thông qua "Luật Lãnh Hải Và Khu Vực Tiếp Giáp" (Luật Lãnh Hải) vào ngày 25 tháng 2 năm 1992. Đạo luật này không chính xác nêu rõ chi tiết về đòi hỏi lãnh thổ của Trung Quốc nhưng nó khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hơn nữa, Trung Quốc đã công bố bản đồ xác định chủ quyền lãnh hải bằng một đường vòng bao quanh toàn bộ Biển Đông từ đảo Hải Nam xuống tận đảo Natuna của Nam Dương. Năm 1993, bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc trấn an người đồng nhiệm của mình tại Nam Dương bằng miệng rằng hòn đảo Natuna có mật độ dân số cao và quan trọng về mặt kinh tế này không nằm trong đòi hỏi của Trung Quốc, nhưng cho đến nay Bắc Kinh vẫn chưa chính thức xác nhận tuyên bố phi chính thức đó.

Theo UNCLOS và thông lệ quốc tế, "lãnh hải" là vùng biển trải rộng ra khơi 12 hải lý tình từ đường nước cạn dọc theo bờ biển của một quốc gia. Nhưng khi ký kết UNCLOS, trong những tuyên bố đính kèm, Trung Quốc lại đơn phương đề xuất những định nghĩa về lãnh hải và quyền lợi của các quốc gia duyên hải khác hẳn với những điều đã được vạch ra trong UNCLOS. Cùng với những lập luận khác, Trung Quốc đã tuyên bố rằng:
1. Theo các điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển, Công Hòa Nhân Dân Trung Hoa được hưởng chủ quyền lãnh thổ và quyền tài phán trên vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa.

2. Thông qua thương nghị, Công Hòa Nhân Dân Trung Hoa sẽ thực hiện việc phân định ranh giới quyền tài phán trên biển với từng quốc gia có bờ biển đối diện hoặc tiếp giáp với Trung Quốc, dựa trên cơ sở của luật pháp quốc tế và theo nguyên tắc công bằng.

3. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tái khẳng định chủ quyền trên tất cả các đảo và quần đảo liệt kê trong Điều 2 của Luật Lãnh Hải Và Khu Vực Tiếp Giáp được ban hành vào ngày 25 tháng 2 năm 1992 của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.
4. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tái khẳng định rằng những điều khoản của Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển liên quan đến quyền thông hành vô tác hại trên lãnh hải không thể gây tổn thất cho quyền hạn của một quốc gia duyên hải trong việc dựa theo luật lệ của mình để yêu cầu các nước ngoài phải xin phép hoặc thông báo với quốc gia duyên hải trước khi điều động tàu chiến qua lãnh hải của quốc gia duyên hải này.
Những tuyên bố này biến đổi bản chất ý nghĩa của các điều khoản UNCLOS và tương phản rõ rệt với truyền thống luật lệ hải dương. Trung Quốc tuyên bố khu vực EEZ của mình không phải chỉ là ranh giới kinh tế mà còn là lãnh thổ chủ quyền, và như vậy nới rộng biên giới lãnh hải thêm 200 hải lý. Trung Quốc còn tuyên bố rằng những hải đảo không có người ở và các rặng san hô trên Biển Đông cũng là lãnh thổ của mình nên do vậy cũng có khu vực EEZ trải rộng thêm 200 hải lý tính từ mỗi mốc này nữa, và rằng thềm lục địa của Trung Quốc trải rộng ra đến tận bất cứ nơi nào mà Trung Quốc chọn để vạch ranh. Cuối cùng, những tuyên bố này nới rộng thêm đặc quyền của Trung Quốc trong địa vị một quốc gia duyên hải bằng cách kiên trì đòi hỏi các tàu chiến muốn sử dụng quyền thông hành vô tác hại trước hết phải xin phép Trung Quốc, lần nữa đây là một hành động vi phạm cả UNCLOS lẫn truyền thống luật lệ hải dương.

Trung Quốc còn tuyên bố rằng những hải đảo không có người ở và các rặng san hô trên Biển Đông cũng là lãnh thổ của mình nên do vậy cũng có khu vực EEZ

Lập trường của chính phủ Trung Quốc ảnh hưởng trực tiếp đến các nền kinh tế trong vùng, quyền tự do giao thông trên biển và trên không của các đoàn tàu bè và máy bay của mọi nước trên toàn cầu, cũng như các lực lượng hải quân và không quân của Hoa Kỳ. Nếu Trung Quốc được phép thực thi chủ quyền trên Biển Đông thì các thuyền buôn qua lại trên vùng biển này, bất kể là treo cờ của nước nào, đều bắt buộc phải tuân thủ luật lệ của Trung Quốc và phải nộp bất cứ các loại lệ phí, thuế má, hoặc các hạn chế nào khác mà Trung Quốc tùy tiện áp đặt. Hơn nữa, Trung Quốc sẽ chiếm độc quyền khai thác hải sản và khoáng sản trên một vùng biển mà các nước duyên hải khác cậy vào để mưu cầu một phần thu nhập đáng kể từ tài nguyên thiên nhiên cho mình. Cuối cùng, việc Trung Quốc kiên trì đòi hỏi bất cứ tàu chiến nào qua lại trên Biển Đông đều phải xin phép Bắc Kinh trước sẽ vô hiệu hóa quyền thông hành vô tác hại của các tàu chiến ngoại quốc. Hơn nữa, các tàu chiến thực sự qua lại trên vùng lãnh hải này sẽ phải đối đầu với nhiều hạn chế khắt khe do Trung Quốc áp đặt vào hoạt động của chúng.

Những hạn chế này, nếu được áp dụng trên toàn bộ Biển Đông, sẽ nghiêm trọng giới hạn hoạt động của Hải Quân Hoa Kỳ và ngăn cản khả năng của nó trong việc bảo vệ ngành vận tải đường biển của cả Hoa Kỳ lẫn thế giới. Hơn nữa, căn cứ theo lập trường của Trung Quốc thì cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về những hoạt động của máy bay trinh sát EP-3 gần đảo Hải Nam vào tháng 4 năm 2001, những đợt quấy nhiễu hai tàu USNS Impeccable Victorious của Hoa Kỳ vào mùa xuân 2009, vụ va chạm giữa tàu ngầm Trung Quốc và giàn xô-na của tàu USNS John McCain vào tháng 6 năm 2009, cũng như việc phô trương sức mạnh qua các trận diễn tập hải quân tại Hoàng Hải gần đây không phải là những sự cố riêng lẻ mà ngược lại là những chương tiết mới nhất trong chiến dịch khẳng định chủ quyền tại Biển Đông của Trung Quốc và có thể xem như là những hiệp đầu trong trận đấu giằng co đang leo thang giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Trung Quốc còn tuyên bố rằng những hải đảo không có người ở và các rặng san hô trên Biển Đông cũng là lãnh thổ của mình nên do vậy cũng có khu vực EEZ.

Lập trường của chính phủ Trung Quốc ảnh hưởng trực tiếp đến các nền kinh tế trong vùng, quyền tự do giao thông trên biển và trên không của các đoàn tàu bè và máy bay của mọi nước trên toàn cầu, cũng như các lực lượng hải quân và không quân của Hoa Kỳ. Nếu Trung Quốc được phép thực thi chủ quyền trên Biển Đông thì các thuyền buôn qua lại trên vùng biển này, bất kể là treo cờ của nước nào, đều bắt buộc phải tuân thủ luật lệ của Trung Quốc và phải nộp bất cứ các loại lệ phí, thuế má, hoặc các hạn chế nào khác mà Trung Quốc tùy tiện áp đặt. Hơn nữa, Trung Quốc sẽ chiếm độc quyền khai thác hải sản và khoáng sản trên một vùng biển mà các nước duyên hải khác cậy vào để mưu cầu một phần thu nhập đáng kể từ tài nguyên thiên nhiên cho mình. Cuối cùng, việc Trung Quốc kiên trì đòi hỏi bất cứ tàu chiến nào qua lại trên Biển Đông đều phải xin phép Bắc Kinh trước sẽ vô hiệu hóa quyền thông hành vô tác hại của các tàu chiến ngoại quốc. Hơn nữa, các tàu chiến thực sự qua lại trên vùng lãnh hải này sẽ phải đối đầu với nhiều hạn chế khắt khe do Trung Quốc áp đặt vào hoạt động của chúng.

Những hạn chế này, nếu được áp dụng trên toàn bộ Biển Đông, sẽ nghiêm trọng giới hạn hoạt động của Hải Quân Hoa Kỳ và ngăn cản khả năng của nó trong việc bảo vệ ngành vận tải đường biển của cả Hoa Kỳ lẫn thế giới. Hơn nữa, căn cứ theo lập trường của Trung Quốc thì cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ về những hoạt động của máy bay trinh sát EP-3 gần đảo Hải Nam vào tháng 4 năm 2001, những đợt quấy nhiễu hai tàu USNS Impeccable Victorious của Hoa Kỳ vào mùa xuân 2009, vụ va chạm giữa tàu ngầm Trung Quốc và giàn xô-na của tàu USNS John McCain vào tháng 6 năm 2009, cũng như việc phô trương sức mạnh qua các trận diễn tập hải quân tại Hoàng Hải gần đây không phải là những sự cố riêng lẻ mà ngược lại là những chương tiết mới nhất trong chiến dịch khẳng định chủ quyền tại Biển Đông của Trung Quốc và có thể xem như là những hiệp đầu trong trận đấu giằng co đang leo thang giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.


Trở lại phần 1          Xem tiếp phần 3

Tác giả: Dana Dillon
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Hoover Institute, Standford University

0 comments:

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn