Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 11 tháng 12 năm 2011

Trung Quốc Vẫn Là Gã Đông Á Bệnh Phu

Cuộc Khủng Hoảng Y Tế Của Trung Quốc

Mặc dù Trung Quốc đã gặt hái nhiều tiến bộ đáng kể về mặt kinh tế trong mấy thập kỷ vừa qua, nhưng tình trạng sức khỏe của công dân đất nước này lại không được cải thiện một cách tương xứng. Từ năm 1980 cho đến nay, Trung Quốc vẫn duy trì đều đều một tỉ lệ tăng trưởng kinh tế trung bình hàng năm ở mức 10% và họ đã đưa khoảng 400-500 triệu dân thoát khỏi cảnh bần cùng. Nhưng theo số liệu thống kê của chính phủ Trung Quốc thì tuổi thọ trung bình của người dân chỉ gia tăng 5 năm trong giai đoạn 1981-2009, từ khoảng 68 tuổi lên 73 tuổi. (Trong giai đoạn 1949-1980, tuổi thọ trung bình của người Trung Quốc tăng đến gần 33 năm.) Tại các quốc gia có mức tuổi thọ trung bình tương đương với Trung Quốc vào năm 1981 nhưng có tỉ lệ tăng trưởng kinh tế chậm hơn Trung Quốc trong những năm sau đó—ví dụ như Colombia, Mã Lai, Mễ Tây Cơ, và Nam Hàn—vào năm 2009 tuổi thọ trung bình của họ gia tăng từ 7-14 năm. Theo báo cáo của Ngân Hàng Thế Giới, ngay cả Úc, Hồng Kông, Nhật Bản, và Singapore, những nơi có mức tuổi thọ trung bình cao hơn Trung Quốc rất nhiều vào năm 1981, cũng có mức tăng trưởng tuổi thọ từ 7-10 năm trong giai đoạn này.

Gánh bệnh tật đang đè nặng trên vai Trung Quốc cũng là một cảnh tượng khiến cho người ta ưu lo. Giống như nhiều nước kém phát triển khác, Trung Quốc vẫn còn phải chống chọi với vô vàn đe dọa của vi khuẩn và vi-rút, bao gồm HIV/AIDS, lao phổi, viêm gan, và chó dại. Ví dụ, hơn 130 triệu người tại Trung Quốc mắc chứng viêm gan siêu vi B (HBV)—chiếm 1/3 tổng số bệnh nhân HBV của toàn thế giới. Trong khi đó các loại bệnh kinh niên không truyền nhiễm, một đặc trưng của các nước phát triển, lại đang trở thành một vấn đề càng khó giải quyết hơn. Theo báo cáo của Cuộc Điều Tra Dịch Vụ Y Tế Toàn Quốc do Bộ Y Tế Trung Quốc thực hiện vào năm 2008, 61% số người nhuốm bệnh trong 2 tuần trước khi được phỏng vấn cho hay họ có bệnh kinh niên, so với 10 năm trước con số này chỉ là 39%. Một nghiên cứu của Tạp Chí Y Học New England vào năm 2010 cho hay Trung Quốc có số người mắc bệnh tiểu đường nhiều nhất thế giới và tại đây căn bệnh này đang lan rộng với một tốc độ nhanh hơn tại châu Âu cũng như Hoa Kỳ. Hiện tại có gần 10% dân số trên 20 tuổi mắc bệnh tiểu đường—gần bằng tỉ lệ 11% của Hoa Kỳ và cao hơn nhiều so với Gia Nã Đại, Đức, và các nước phương Tây khác. Hiện thời, các loại bệnh không truyền nhiễm (bao gồm bệnh tim mạch, bệnh hô hấp kinh niên, và ung thư) là nguyên nhân gây ra 85% nhân số tử vong tại Trung Quốc—cao hơn nhiều so với mức trung bình của thế giới là 60%. Một nguyên nhân chủ yếu là hiện tượng lão hóa nhanh chóng của dân số. Điều tra dân số năm 2010 cho hay bộ phận dân số trên 60 tuổi tại Trung Quốc đã vượt quá 13%, gia tăng gần 3% kể từ năm 2000. Căn cứ theo một báo cáo gần đây của Ngân Hàng Thế Giới, nếu chính phủ không thực thi những biện pháp hữu hiệu nhằm chăm nom sức khỏe của người già thì gánh nặng do các loại bệnh tật không truyền nhiễm gây ra chí ít sẽ gia tăng thêm 40% vào năm 2030. Chẳng hạn, số bệnh nhân Alzheimer ở Trung Quốc vào năm 2040 được dự đoán là sẽ nhiều hơn tổng số người mắc bệnh này tại tất cả các nước phát triển gộp lại.

Càng ngày càng có thêm nhiều người Trung Quốc mắc bệnh tâm thần. Căn cứ theo tài liệu của Bộ Y Tế Trung Quốc thì tỉ lệ mắc chứng rối loạn tâm thần từ năm 2003 cho đến năm 2008 gia tăng 50%. Một cuộc điều tra có quy mô lớn do Trung Tâm Nghiên Cứu Và Dự Phòng Tự Sát của Bệnh Viện Hồi Long Quan tại Bắc Kinh thực hiện từ năm 2001 đến năm 2005 và dựa trên quá trình phỏng vấn hơn 130 triệu người dân trên địa bàn của bốn tỉnh đã phát hiện có đến 17,5% dân số
, tức khoảng 227 triệu người, mắc bệnh tâm thần dưới một hình thái nào đó, như chướng ngại tình cảm và âu lo. Đây là một tỉ lệ thuộc loại cao nhất thế giới. Ước tính có khoảng 270,000 người tự sát hàng năm tại Trung Quốc; ở mức 23 ca cho 100.000 dân, đây cũng là một tỉ lệ thuộc loại cao nhất thế giới và cao gấp hai lần tỉ lệ tự sát tại Hoa Kỳ.

Bất chấp tính nghiêm trọng của những vấn đề này, để tập trung năng lực vào việc đeo đuổi mức tăng trưởng kinh tế, giới lãnh đạo Trung Quốc đã bỏ bê lãnh vực y tế công cộng từ lâu. Sau khi hệ thống y liệu kiểu Mao bắt đầu sụp đổ vào đầu thập kỷ 1980, ngân sách y tế của chính phủ Trung Quốc tính theo tỉ lệ GDP (Tổng Sản Phẩm Quốc Nội) cũng suy sút, từ 1,1% vào năm 1980 giảm xuống 0,8% vào năm 2002. (Trong khi đó mức chi tiêu dành cho ngành y tế của chính phủ Hoa Kỳ là 6,7% GDP vào năm 2002.) Việc xúc tiến cải cách theo chiều hướng thị trường cũng gây tổn hại thêm cho hệ thống y liệu vốn đã quá tồi tệ: vào năm 2003, hơn 70% dân số Trung Quốc hoàn toàn chẳng có một hình thức bảo hiểm y tế nào cả. Từ đó cho đến bây giờ tuy cũng có một số cải cách, nhưng gánh bệnh tật của Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng—nghiêm trọng đe dọa hệ thống y liệu cũng như toàn bộ nền kinh tế
của đất nước này, và thậm chí cả sự ổn định của chế độ. 

GIAN DỐI THỨ THIỆT

Hầu như trong suốt quá trình lịch sử của Trung Quốc, việc chăm nom sức khỏe được xem là trách nhiệm cá nhân, chứ không phải là quyền lợi. Bởi vậy, những nỗ lực của chế độ Mao nhằm thiết lập một hệ thống y liệu do nhà nước bảo trợ đánh dấu một sự chuyển hướng quan trọng nhằm lìa bỏ truyền thống lịch sử. Đầu thập kỷ 1950, chính phủ thiết lập các chương trình bảo hiểm y tế cho cán bộ và công nhân của nhà nước cũng như xây dựng nhiều bệnh viện và bệnh xá công lập tại các cấp huyện và khu. Với kế hoạch Đại Nhảy Vọt bắt đầu vào năm 1958, nhà nước lại có thêm một lý do nữa để can thiệp vào lãnh vực y tế. Để đổi lấy những dịch vụ y tế thuận tiện và miễn phí, nông dân phải ủng hộ chính sách tập thể hóa nông nghiệp cũng như tiến trình nới rộng công xã nhân dân—và rồi tiến trình này lại trở thành cơ sở tài chánh và thể chế nhằm phục vụ cho chế độ y liệu mới. Đến năm 1959, Trung Quốc đã hoàn tất việc xây dựng một hệ thống y liệu ba tầng tại vùng nông thôn, bao gồm bệnh viện ở cấp huyện, bệnh xá ở cấp công xã, và trạm y tế tại làng (được gọi là "đại đội sản xuất"). Hệ thống này không những cung cấp dịch vụ trị liệu mà còn tiến hành công tác dự phòng, và như vậy đã đóng một vai trò thiết yếu trong việc thực thi chiến lược phòng chống bệnh truyền nhiễm của nhà nước.

Sau khi phong trào Cách Mạng Văn Hóa, được phát động vào năm 1966, dẫn đến việc thanh trừng hàng loạt cán bộ cao cấp trong ngành y tế, Bộ Y Tế bị đẩy ra ngoài rìa của tiến trình hoạch định chính sách. Nhưng khi sức cản trở của giới quan liêu suy giảm, việc điều hợp chính sách nhờ thế lại trở nên dễ dàng hơn. Một số lượng nhân viên y tế đông đảo chưa hề thấy được điều động về vùng nông thôn. Thông qua những kỳ huấn luyện y khoa phi chính quy một số nông dân đã trở thành các "bác sĩ chân đất" để đảm trách công tác trị liệu những căn bệnh thông thường và xúc tiến việc ngăn ngừa bệnh tật. Thể chế được mệnh danh là "hợp tác y liệu" (một kế hoạch bảo hiểm y tế lấy tổ chức cộng đồng làm cơ sở) đã lan tràn nhanh chóng. Đến năm 1976, Trung Quốc có khoảng 1,8 triệu bác sĩ chân đất; chương trình hợp tác y liệu che chở hơn 90% đại đội sản xuất, hay làng; và hầu như công xã nào cũng có một bệnh xá. Trung Quốc có nhiều bác sĩ, y tá, và giường bệnh tại y viện hơn bất cứ quốc gia nào có cùng mức phát triển kinh tế. Sức khỏe của người dân Trung Quốc được cải thiện một cách đáng kể: tỉ lệ tử vong giảm từ 2% vào năm 1949 xuống 0,7% vào năm 1975. Căn cứ theo các con số chính thức do Trung Quốc đưa ra cũng như các nguồn tài liệu quốc tế, trong thời kỳ này tuổi thọ trung bình của người dân Trung Quốc đạt mức 65 tuổi, tức là đã tăng thêm 35 năm.

Cái chết của Mao và tiến trình cải cách kinh tế xảy ra ngay sau đó đã biến đổi tình hình này với nhiều ấn tượng sâu sắc. Sự kết thúc của thể chế công xã nhân dân và chính sách quay trở lại với mô thức canh tác theo hộ gia đình đã hủy diệt các ngân quỹ y liệu cộng đồng mà trước đó đã từng giữ vai trò cung cấp nguồn tài chính chủ yếu cho hệ thống y liệu nông thôn của chế độ Mao. Vào năm 1978, 82% trong toàn bộ các đại đội sản xuất được giao phó nhiệm vụ thực thi kế hoạch hợp tác y liệu; đến năm 1983, con số này giảm xuống chỉ còn 11%. Số lượng bác sĩ chân đất giảm chừng 23% trong cùng khoảng thời gian đó. Kế hoạch cải cách kinh tế nông thôn nâng cao mức thu nhập có thể tiêu dùng của nông dân khiến họ có năng lực vượt qua trạm y tế của làng hoặc bệnh xá của thị trấn để đi tìm kiếm dịch vụ y liệu tại các bệnh viện ở thành phố. Tiến triển này không những đã hủy hoại mạng chẩn trị ba tầng tại miền quê mà còn tạo nên một nhu cầu mạnh mẽ cho các dịch vụ y tế đa dạng hơn và hoàn thiện hơn tại thành phố. Tình trạng thiên vị đô thị của thể chế y liệu đã quay trở lại.

Sự phục hồi của giới lãnh đạo trong guồng máy hành chính cũ (những kẻ từng bị thanh trừng trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa trước kia) đã mang lại những đòi hỏi cho rằng một số nhóm phái chọn lọc của xã hội, đặc biệt là quan viên chính phủ, cần phải được chiếu cố nhiều hơn trong vấn đề y liệu. Tình trạng này dẫn đến sự phục xuất trong thập kỷ 1980 của một liên minh mà Mao đã cố công đập vỡ giữa thập kỷ 1960: giới quản lý đô thị, quan viên chính phủ trong ngành y tế, và cư dân thành phố cùng chia sẻ một mối lợi ích chung trong việc duy trì các dịch vụ y liệu có chất lượng cao tại đô thị. Bởi thế, khi các cơ cấu y tế tại vùng nông thôn bắt đầu tan vỡ, thay vì đưa ra biện pháp bổ cứu, giới lãnh đạo của Bộ Y Tế công khai kêu gọi kết thúc những cơ cấu này và xúc tiến một chính sách hiện đại hóa chủ yếu chỉ được thực thi tại vùng đô thị. Đến năm 2004, gần 80% chi phí y liệu của chính phủ được phân phối cho các cơ cấu y tế tại vùng đô thị, cho dù số lượng cư dân thành phố chỉ chiếm 42% dân số quốc gia.

Sự chuyển hướng trong kế hoạch phát triển kinh tế của chính phủ lại càng gây thêm tác hại cho tiến trình quá độ này. Vấn đề y tế công cộng bị gạt sang một bên. Vì phải lấy phát triển kinh tế làm thước đo thành tích quản trị của mình, quan viên chính phủ ở các cấp địa phương hy sinh y tế công cộng để đeo đuổi tăng trưởng kinh tế. Kết quả là các bệnh truyền nhiễm đã bị tiêu diệt hết dưới thời Mao lại trỗi dậy và lan tràn nhanh chóng trong thập kỷ 1980. Chính phủ rút lui xa hơn nữa trong việc cung cấp các dịch vụ y liệu khi cải tổ thuế má được tiến hành vào năm 1994, kế hoạch này cho phép chính phủ tập trung quyền lực tài chính tại trung ương nhưng lại tăng cường việc phân phối trách nhiệm tài chính xuống các cấp địa phương. Mức chi tiêu của chính phủ tính theo tỉ lệ phần trăm của tổng ngân sách y tế sút giảm trầm trọng—từ 39% trong năm 1986 xuống 16% trong năm 2002—buộc người dân phải tự tìm biện pháp điền vào khoảng trống. Chính quyền địa phương phải gánh chịu hầu như toàn bộ chi phí trợ cấp dành cho các cơ cấu y liệu: theo tài liệu do Bộ Tài Chính và Cục Thống Kê Quốc Gia của Trung Quốc công bố, con số này vượt quá 97% trong giai đoạn 1997-2007. Hơn nữa, mức chi tiêu dành cho thường dân chỉ chiếm một bộ phận rất nhỏ trong tổng kinh phí y tế của chính phủ: theo lời thố lộ của ông Ân Đại Khuê, một cựu thứ trưởng Bộ Y Tế, vào năm 2006 mức chi tiêu dành riêng cho chỉ khoảng 8,5 triệu quan viên chính phủ chiếm đến 80% ngân sách y tế của Trung Quốc.

Tình trạng suy giảm trong mức hỗ trợ của chính phủ, kèm với tiến trình cải cách kinh tế theo định hướng thị trường, cũng biến đổi cả hành vi của giới cung ứng dịch vụ y liệu. Những cơ cấu này đã trở thành những bộ máy làm tiền. Bệnh viện công lập bắt đầu ráo riết buôn bán thuốc men và cung cấp những dịch vụ phụ mang tính kỹ thuật cao để bù đắp những khoản mất mát do tình trạng sa sút trong mức hỗ trợ của chính phủ tạo nên và để kích thích tăng trưởng trong mức thu nhập. Tổng lượng chi phí y liệu gia tăng theo hàm số mũ. Và tình trạng này đã xảy ra vào một thời điểm mà Trung Quốc hầu như chưa thiết lập được một mạng lưới an sinh xã hội: Điều Tra Dịch Vụ Y Liệu Toàn Quốc vào năm 1998 phát hiện rằng hơn 87% dân số nông thôn và hơn 44% dân số đô thị không có một hình thức bảo hiểm y liệu nào cả. Người dân phải móc tiền túi để trang trải những chi phí ngày càng gia tăng này. Vào khoảng 1999, bộ phận do tư nhân gánh chịu trong tổng lượng chi phí y liệu vượt quá 59%. Trong một số trường hợp, bệnh nhân không thể đi khám bác sĩ vì phí tổn quá đắt. Vào năm 2004, thứ trưởng Bộ Y Tế Chu Khánh Sinh cho hay từ 60% đến 80% nông dân nhuốm bệnh nặng phải chịu chết tại nhà vì họ không có khả năng trang trải chi phí y liệu. Chỉ một thế hệ sau khi Mao qua đời, một bản báo cáo đánh giá các hệ thống y liệu khắp hoàn cầu vào năm 2000 của Tổ Chức Y Tế Thế Giới xếp Trung Quốc vào hạng 144 trong số 191 quốc gia—cho dù vào thời điểm này nền kinh tế Trung Quốc đã xếp hạng thứ sáu trên thế giới.

Xem tiếp phần 2


Bài liên quan: Bắc Kinh: Chó Đái Quanh, Bò Cạp Cắn Bừa, Hay Ếch Phình Bụng?

0 comments:

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn