Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 28 tháng 03 năm 2012

Giới Truyền Thông Việt Ngữ Không Nhầm, Xin Chớ Vu Oan! (1)

Đầu xuân lướt mạng tình cờ tìm được một bài viết rất thú vị. Thú vị không những vì nó liên quan đến một mùa xuân kỳ diệu — một mùa xuân tràn trề hy vọng của những con người bị cướp mất tự do và nhân phẩm đang hăng hái vùng dậy để hủy diệt gông cùm của độc tài chuyên chế. Thú vị vì cái tít rất mực mô phạm của nó: Xin Quý đài VOA, BBC, RFA, RFI Làm Gương Không Dịch Nhầm “Arab Spring” Là “Mùa Xuân Ả Rập” nữa. Nhưng điều hấp dẫn không kém là phương thức luận giải cũng như cung cách xử lý tư liệu và bằng chứng của tác giả tiến sĩ luật sư Lưu Nguyễn Đạt. Đại khái, trọng tâm lý luận của bài viết này xoay quanh mấy điểm chính sau đây:
Giữa năm 2011, một số chính khách, học giả như Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary R. Clinton và Chủ  tịch Asia Foundation David Arnold có đề cập tới nhóm chữ “Arab spring”, mà một số đài phát thanh, truyền hình, nhà báo Việt ngữ đã dịch nhầm là “Mùa Xuân Ả rập”.  Thật ra “Arab spring”, trong bối cảnh xã hội chính trị này có nghĩa là “Cuộc Nổi Dậy Nhân Dân Ả rập” – vì chữ “spring” ở đây nói tới động tác “nổi lên, nổi dậy”, gần với động tác “rising/uprising”.

Tại sao các chính khác [sic], học giả, nhà báo Âu Mỹ lại dùng tới thuật ngữ “Arab spring/Cuộc Nổi Dậy Nhân Dân Ả rập”?  Chắc vì họ căn cứ vào thuật ngữ thổ dân Ả rập muốn nhấn mạnh tới cuộc khởi nghĩa từ hạ tầng xã hội và tư thế vận động toàn dân/toàn chủng tộc Ả rập nổi dậy chống chế độ phản nước hại dân mà họ từng chịu đựng mấy chục năm qua. ...
Thật vậy, thuật ngữ “Arab spring” không hề có tính cách ẩn dụ mùa màng [seasonal metaphors], nhất là “Mùa Xuân”, vì: ...1
Dạo một vòng quanh các trang mạng Wikipedia phi-Anh ngữ, bạn đọc sẽ thấy, trong hầu hết các ngôn ngữ khác, thiên hạ đều hiểu và dịch thuật ngữ này theo chiều hướng mùa xuân, chẳng hạn như "Primavera Árabe" (Bồ Đào Nha), "Arabischer Frühling" (Đức), "阿拉伯之春" (Hoa), "アラブの春" (Nhật), "Printemps arabe" (Pháp), và "Primavera Araba" (Ý), mà trong đó các chữ "primavera," "frühling," "春," và "printemps" chỉ có nghĩa là mùa xuân chứ không có nghĩa là nổi dậy. Đấy, thú vị không? Đâu phải chỉ riêng giới truyền thông Việt ngữ nhầm, nếu nhầm thì chí ít đại bộ phận truyền thông quốc tế cũng nhầm. 

Nhầm hay đúng? Trung thành hay phản bội? Câu trả lời cho nghi vấn đầy thú vị này dựa trên điều kiện cơ bản là Lưu Nguyễn Đạt cần phải chứng minh cụm từ "the Arab Spring" đang được sử dụng rộng rãi trong (và ngoài) giới truyền thông Anh ngữ (ở khắp nơi trên thế giới) chỉ có nghĩa là "Cuộc Nổi Dậy Của Nhân Dân Ả Rập" trực tiếp theo ý nghĩa mặt chữ của nó là "gần với động tác rising/uprising" chứ không phải là "Mùa Xuân Ả Rập" theo chiều hướng ẩn dụ của springtime (tức là dùng mùa xuân để ám chỉ hay mệnh danh những cuộc nổi dậy của nhân dân tại nhiều nước trong vùng Trung Đông và Bắc Phi). Nhưng điều trớ trêu thú vị nhất là nếu phân tích kỹ càng chúng ta sẽ phát hiện những bằng cớ do Lưu Nguyễn Đạt đưa ra lại xác định một kết luận trái ngược với lời cáo buộc của y.

Ý Nghĩa Từ Điển Của "Spring" 

Dưới dạng danh từ, ngoài ý nghĩa mùa xuân, spring còn có nhiều nghĩa khác, chẳng hạn như: giai đoạn mở đầu một thời kỳ; dòng suối; lò xo, nhíp; tính đàn hồi; động tác nhún, nhảy, nhào, bật dậy; xuất hiện, nảy ra; cội nguồn; động cơ, khí cụ; đường cong, chỗ cong; sự đâm chồi, ra nhánh của cây cối. Không thấy có từ điển nào ghi rõ spring trực tiếp có ý nghĩa là uprising (nổi dậy) hay revolution (cách mạng). Ý nghĩa chính trị của spring mới được đưa vào từ mục của cuốn The Oxford English Dictionary vào năm 1993 dưới dạng dự thảo và được minh định là chuyển nghĩa (transf. là ký hiệu của transferred sense), tức là ý nghĩa đã được chuyển hóa từ nguyên nghĩa:
transf. The initial stages of a period of political liberalization, esp. in a Communist state; the first steps in a programme of political and economic reform. 
Xin lưu ý rằng ở đây spring bao hàm ý nghĩa thời gian chứ không phải là động tác: Những gai đoạn đầu (the initial stages) hoặc là những bước đầu tiên (the first steps). Thứ hai, spring biểu thị cho một thời kỳ tự do hóa chính trị (political liberalization) hoặc một chương trình cải cách chính trị và kinh tế (a programme of political and economic reform), như vậy rõ ràng là spring có một hàm ý chính trị rất rộng rãi, không nhất thiết chỉ cục hạn trong phạm vi cách mạng hay nổi dậy của quần chúng. Hơn thế nữa, những ví dụ mà cuốn từ điển này trích dẫn để minh họa xuất xứ và cách dùng của spring trong ý nghĩa này cũng đều mang tính ẩn dụ của mùa xuân, chẳng hạn như:
[1905    G. Gapon Story of my Life x. 133   That temporary change in the attitude of the Government and the educated class toward each other which has been called the political spring-time of Russia, and which began [in 1904] with the succession of Prince Sviatopolk Mirski to the old post of Plehve.]
Tôi tạm dịch: [... Sự thay đổi tạm thời trong thái độ cư xử hỗ tương giữa Chính Phủ và giai cấp trí thức được mệnh danh là mùa xuân chính trị của Nga, và đã bắt đầu [vào năm 1904] với sự kiện Hoàng Tử Sviatoplk Mirski thừa kế chức vụ cũ của Plehve.]
(Để tránh việc lập đi lập lại xác định, xin lưu ý rằng trong bài viết này tất cả các phần được dịch ra tiếng Việt, cũng những chữ được tô đậm trong nguyên văn và  bản dịch, đều do tôi thực hiện.)
[1968    Sat. Rev. (U.S.) 13 Apr. 8/1   Spring blooms in Prague‥. Spring in Eastern Europe this year is forcing new shoots of freedom out from still-frozen ideological soil.]
[... Mùa xuân nở rộ tại Praha‥. Mùa xuân năm nay tại Đông Âu đang thối thúc những chồi nụ tự do mới vươn lên từ mảnh đất ý thức hệ vẫn còn bị đóng băng.]
Nếu nói rằng chính bản thân chữ spring có ý nghĩa là một cuộc nổi dậy của quần chúng (chứ không phải theo ý nghĩa chuyển hóa hay ẩn dụ của mùa xuân) thì e rằng đó chỉ là một sự kéo dài quá trớn ý nghĩa nội hàm của nó. Trong trường hợp chúng ta áp dụng nguyên tắc từ thiện (le principe de charité) để chấp nhận rằng chữ spring hiểu theo nghĩa đen (nghĩa mặt chữ hay nghĩa từ điển) thực sự biểu thị sự nổi dậy của quần chúng, luận điểm của Lưu Nguyễn Đạt cũng không có cơ sở để đứng vững. Bởi vì trên thực tế thuật ngữ "the Arab Spring" (cũng tương tự như những ví dụ do cuốn The Oxford English Dictionary dẫn chứng) chỉ được dùng dưới dạng ẩn dụ của mùa xuân để ám chỉ giai đoạn cách mạng bùng nổ tại Bắc Phi và Trung Đông trong thời gian qua. Trước khi trình bày những bằng chứng minh họa ý nghĩa ẩn dụ của thuật ngữ "the Arab Spring" trong luận thuật chính trị đương đại, tôi sẽ thảo luận một số vấn đề liên quan đến nguồn gốc ý nghĩa cách mạng cũng như các ý nghĩa khác của mùa xuân trong chức năng thuật ngữ chính trị.

Nguồn Gốc Ý Nghĩa Cách Mạng Của "Spring"
 
Danh xưng "the Arab Spring" thường được xem là dựa trên mô hình của thuật ngữ "the Prague Spring," nhưng đó chỉ là tiền thân mới xuất hiện gần đây của nó. Thực sự, ý nghĩa chính trị của spring ra đời trước thời điểm đó hơn cả một thế kỷ, bắt nguồn từ các cuộc cách mạng xảy ra tại châu Âu vào mùa xuân năm 1848 khi các dân tộc khắp nơi trên lục địa này nổi dậy đòi lật đổ chế độ quân chủ tại đất nước họ. Sau đây là một số biến cố chính:
Ngày 24 tháng 2, 1848: Cách mạng Pháp bức bách vua Louis Phillipe thoái vị, nền Đệ Nhị Cộng Hòa được tuyên bố khai sinh tại Hotel de Ville và nội các mới được quần chúng tụ tập bên ngoài khách sạn này hoan hô xác nhận. Nguồn tin này lan tỏa nhanh chóng và kích thích toàn thể nhân dân châu Âu.
Ngày 3 tháng 3, 1848: Nhà cách mạng tả phái Lajos Kossuth đứng trước Quốc Hội Hungary kêu gọi thành lập chính phủ dân biểu.
Ngày 3 tháng 3, 1848: Cách mạng bùng nổ tại Rhineland.
Ngày 12 tháng 3,  1848: Cách mạng bùng nổ tại Vienna.
Ngày 15 tháng 3, 1848: Cách mạng bùng nổ tại Berlin.
Ngày 18 tháng 3,  1848: Cách mạng bùng nổ tại Milan.
Ngày 21 tháng 3,  1848: Quần chúng kéo đến hoàng cung Đan Mạch để buộc vua Frederick VII phải chấp nhận thành lập chính phủ mới có khuynh hướng tự do và xúc tiến việc soạn thảo hiến pháp.
Dựa vào những mốc thời gian này, cuộc cách mạng 1848 tại Pháp còn được gọi là Cách Mạng Tháng Hai và tại các nước khác là Cách Mạng Tháng Ba. Những người theo phái tự do tại Đức đương thời đã gộp chung lại và mệnh danh chúng là Völkerfrühling hay Frühling der Völker (trong tiếng Đức frühling có nghĩa là mùa xuân và völker có nghĩa là nhân dân hay sát hơn là dân tộc dưới dạng số nhiều). Sau đó, thuật ngữ này được dịch sang tiếng Pháp là le Printemps des peuples tiếng Anh là the Springtime of Peoples, the Springtime of Nations hay the Spring of Nations. Hiển nhiên trong các cụm từ này springtimespring là hai chữ đồng nghĩa, và các thuật ngữ này có thể dịch sang tiếng Việt Mùa Xuân Của Nhân Dân hay sát hơn là Mùa Xuân Của Các Dân Tộc [Châu Âu]. Nhưng ngoài chức năng biểu thị thời gian theo nghĩa đen ra, spring/springtime còn đóng vai trò ẩn dụ theo nghĩa bóng và nhiều học giả đã xác định biểu tượng chính trị của thuật ngữ này. Sau đây là một số ví dụ minh họa.

Sử gia Mike Rapport giải thích rằng: 
Völkerfrühling the 'Springtime of Peoples' a name pregnant with the liberating hopes of the early weeks of the revolutions, when national aspirations suddenly seemed possible.2 
Völkerfrühling 'Mùa Xuân Của Nhân Dân' — một danh xưng cưu mang nhiều ước ao giải phóng trong mấy tuần lễ đầu tiên của những cuộc cách mạng này, khi khát vọng dân tộc đột nhiên dường như có thể khả thi. 
Trong cuốn sử ký 1848: Year of Revolution, Mike Rapport không những đã dùng biểu tượng của mùa xuân mà còn cả mùa hè và mùa thu, theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, để trần thuật ba giai đoạn chủ yếu của những cuộc cách mạng này; tiêu đề của ba chương chính trong tác phẩm này được tác giả gọi là: "The Springtime of Peoples" ("Mùa Xuân Của Nhân Dân," để biểu thị niềm phấn khởi và hy vọng giải phóng của nhân dân), "The Red Summer" ("Mùa Hè Đỏ Lửa," để biểu thị cuộc chiến khốc liệt giữa chính quyền và phe cách mạng), và "The Counter-Revolutionary Autumn" ("Mùa Thu Phản Cách Mạng," để biểu thị sự tàn tạ hay thất bại của phe cách mạng).3
 
Giáo sư Jonathan Sperber kết nối nét tương phản chính trị với đặc tính của hai mùa đông và xuân: 
For a few brief weeks, Europe experienced the 'springtime of peoples,' celebrating the end of a decades-long winter of oppression.4
Trong vài tuần ngắn ngủi, Châu Âu đã trải nghiệm được 'mùa xuân của nhân dân,' đón mừng sự kết thúc của một mùa đông áp bức kéo dài cả mấy thập kỷ.
Khi bàn đến nguyên nhân của những cuộc cách mạng này, sử gia Henry Bogdan đã nhận định:
The revolutionary explosion in the spring of 1848, or the 'Springtime of Nations,' as it is often called, was the result of several converging factors.5
Cuộc bùng nổ cách mạng vào mùa xuân 1848, hay 'Mùa Xuân Của Nhân Dân,' như thường được gọi, là kết quả của một số yếu tố đồng quy.
Sử gia Hartmut Pogge von Strandmann thì cho rằng ý nghĩa ẩn dụ của mùa xuân có vẻ quá lý tưởng: 
... the first euphoric phase also had a strong symbolic character, expressed by the rather Utopian term 'the springtime of peoples.'6
... giai đoạn hân hoan ban đầu cũng mang một đặc tính biểu tượng mãnh liệt, được diễn đạt bằng thuật ngữ có vẻ Không Tưởng là 'mùa xuân của nhân dân.'
Giáo sư Stephen Blank cũng đề xuất kết luận tương tự, trong một bài báo mang tựa đề "A New Springtime of the Nations"
Although 1848 was the springtime of nations in Europe, most of those revolutions failed to bring democracy, instead unleashing a dynamic that brought a generation of war to Europe."7
Dẫu năm 1848 là mùa xuân của các dân tộc tại châu Âu, hầu hết những cuộc cách mạng này đã thất bại trong việc tạo dựng thể chế dân chủ, thay vào đó đã khai phóng một nguồn động lực để mang lại cho châu Âu cả một thế hệ chiến tranh.
Cựu Bộ Trưởng Tài Chánh Ba Lan Grzegorz Kolodko đã phác họa lộ trình lịch sử của thuật ngữ the Spring of Nations như sau:
Seven generations ago in 1848 Europe was swept up by the revolutionary wave of the Spring of Nations. One generation ago the year 1989 was written in bold letters into the book of History. And now, in 2011, we have again a Spring of Nations, this time first in North Africa and Mid-East, and possibly soon elsewhere, in sub-Saharan Africa, Central Asia…8
Cách đây bảy thế hệ — vào năm 1848 — làn sóng cách mạng giữa Mùa Xuân Của Nhân Dân đã càn quét khắp châu Âu. Cách đây một thế hệ, năm 1989 được ghi vào thư tịch của Lịch Sử bằng những nét chữ tô đậm. Và bây giờ, vào năm 2011, chúng ta lại có Mùa Xuân Của Nhân Dân, lần này đầu tiên xuất hiện tại Bắc Phi và Trung Đông, và có lẽ chẳng bao lâu nữa sẽ xuất hiện tại các nơi khác, tại vùng châu Phi Nam Sahara, Trung Á... 

Khi Ẩn Dụ Mùa Xuân Trở Thành Thuật Ngữ Chính Trị

Ẩn dụ là một phương thức trần thuật trong đó ngôn từ được vay mượn để miêu tả một sự vật hay khái niệm có ý nghĩa khác với ý nghĩa cốt lõi hay căn bản (tức là ý nghĩa mặt chữ hay nội hàm) của chính ngôn từ đó. Đơn giản hơn, nói theo định nghĩa của Aristotle, ẩn dụ là việc gọi tên sự vật này bằng danh xưng thuộc về sự vật khác. Xuân là mùa tỉnh thức và phục hoạt của tự nhiên. Tại nhiều nơi trên thế giới, khi mùa xuân đến đất trời nồng nàn sinh khí và vạn vật trở nên tươi thắm dưới ánh dương quang rực rỡ, cây cối trơ trụi trong mùa mưa gió bắt đầu đâm chồi nẩy lộc trở lại, muông thú vươn mình trỗi dậy sau chuỗi ngày đông tháng giá. Ở vùng Đông Á, yến oanh réo hót líu lo, mai đào mỹ miều nở rộ, người người hớn hở đón chào năm mới với niềm ước mơ và lời chúc mừng nhau an khang và thạnh vượng. Bởi thế mùa xuân thường được dùng để ẩn dụ hoặc tượng trưng cho sự ra đời hay giai đoạn đầu tràn trề sức sống và triển vọng; quá trình chuyển hóa, tái tạo và đổi mới; mốc đánh dấu sự kết thúc của một quá khứ lạnh lùng và hắc ám; hoặc nguồn hạnh phúc đầm ấm và tương lai xán lạn hơn.

Xuất phát từ Âu Mỹ, như định nghĩa của cuốn The Oxford Enghlish Dictionary gợi ý, mùa xuân (dưới dạng spring/springtime, printemps hay früling, chẳng hạn) còn được dùng làm ẩn dụ chính trị để ám chỉ sự bắt đầu của một thời kỳ chính trị xã hội tốt đẹp hơn theo chiều hướng nới rộng tự do và dân chủ (qua các phương tiện như cải cách kinh tế và chính trị do giới lãnh đạo chủ trương theo chiều hướng từ trên xuống dưới hoặc sự nổi dậy của quần chúng nhằm lật đổ chính quyền độc tài, chuyên chế theo chiều hướng từ dưới lên trên). Kể từ sau năm 1848, trong lãnh vực chính trị xã hội, thuật ngữ spring được sử dụng hoàn toàn dưới dạng ẩn dụ, tức là không cần tuân thủ một cách nghiêm ngặt các hạn chế về mặt thời gian hoặc hình thái hoạt động chính trị. Nói cách khác, các biến cố được mệnh danh là mùa xuân theo chiều hướng này không nhất thiết phải xảy ra trong những ngày tháng của mùa xuân hoặc trong đó công cuộc nổi dậy hay cách mạng của quần chúng phải đóng vai trò chủ yếu. Chẳng hạn như: the Prague Spring Mùa Xuân Praha bắt đầu từ tháng một và kết thúc vào tháng tám năm 1968 qua chương trình cải cách kinh tế và chính trị do Bí Thư Thứ Nhất của Đảng Cộng Sản Tiệp Khắc chủ xướng; hoặc the Beijing Spring — Mùa Xuân Bắc Kinh bắt đầu từ tháng 12 năm 1977 và kết thúc vào cuối năm 1978 qua việc nới lỏng quyền tự do ngôn luận do Đảng Cộng Sản Trung Quốc phát động. 

Lưu Nguyễn Đạt bê nguyên xi 13 ví dụ được liệt kê dưới đề mục "Spring (political terminology)" của Wikipedia9 ra để làm bằng cứ chứng minh luận điểm của mình rằng spring không có nghĩa là mùa xuân (springtime) mà chỉ có nghĩa là nổi dậy (uprising). Nhưng điều trớ trêu rất thú vị là trong tất cả 13 ví dụ này (từ Revolutions of 1848 cho đến Terhan Spring), chữ spring chỉ được dùng, hiểu hoặc dịch theo ý nghĩa ẩn dụ của mùa xuân để ám chỉ, tượng trưng hoặc gián tiếp biểu thị cho một thời kỳ chính trị có nhiều triển vọng lạc quan hơn quá khứ mà trong đó cách mạng hay sự nổi dậy của quần chúng chỉ là một trong nhiều dạng thức khác nhau. Dĩ nhiên spring đã trở thành một thuật ngữ chính trị. Nhưng xin thưa cùng ngài tiến sĩ, spring đã trở thành một thuật ngữ chính trị dưới dạng ẩn dụ của mùa xuân và đó mới là ý nghĩa chân chính của bài viết Wikipedia nêu trên. Điều càng thú vị hơn là Lưu Nguyễn Đạt đã diễn dịch nội dung bài viết này theo ý mình một cách hời hợt và võ đoán, thậm chí lại dấu đi những bộ phận chứng cớ mâu thuẫn với luận điểm của mình.

Trước hết, hoàn toàn phù hợp với nhận định của cuốn The Oxford English Dictionary như đã nêu trên, bài Wikipedia cũng ghi rõ rằng: "The term spring is often used to name periods of political liberalization." Tức là: "Thuật ngữ spring thường được dùng để mệnh danh những thời kỳ tự do hóa chính trị." Như vậy, có nghĩa là spring được dùng (1) để gọi tên hay để tạo danh xưng (to name); (2) để biểu thị ý nghĩa thời gian (periods); và (3) hoạt động chính trị trong thời gian này có phạm vi rất rộng rãi vì tự do hóa chính trị (political liberalization) không nhất thiết chỉ bao gồm sự nổi dậy của quần chúng. Sau đây tôi sẽ lần lượt xét đến đặc tính của những biến cố này (theo thứ tự được liệt kê trong Wikipedia hay bài viết của Lưu Nguyễn Đạt, ngoại trừ đề mục "Arab Spring").

____________________________________
Chú Thích:
1 Lưu Nguyễn Đạt, Xin Quý đài VOA, BBC, RFA, RFI Làm Gương Không Dịch Nhầm 'Arab Spring' Là 'Mùa Xuân Ả Rập' nữa,”  Việt Thức  (February 7, 2012). Truy cập ngày 18 tháng 3, 2012. 
2 Mike Rapport, 1848: Year of Revolution (New York: Basic Books, 2009), tr. 112.
3 Mike Rapport, như trên, tr. 112-334.
4 Jonathan Sperber, The European Revolutions, 1848-1851 (New York: Cambridge University Press, 2005), tr. 132. 
5 Henry Bogdan, From Warsaw To Sofia: A History of Eastern Europe, ed. Istvan Fehervary, trans. Jeanie P. Fleming, (Santa Fe: Pro Libertate Publishing, 1989), tr. 93. 
6 Hartmut Pogge von Strandmann, "1848-1849: A European Revolution?" in The Revolutions in Europe, 1848-1849: From Reform to Reaction, ed. Robert Evans and Hartmut Pogge von Strandmann (Oxford: Oxford University Press, 2000), tr. 5.
7 Stephen Blank, "A New Springtime of the Nations?" The Jamestown Foundation (November 5, 2002). Truy cập ngày 19 tháng 3, 2012.
8 Grzegorz Kolodko, "The Spring of Nations," The Diplomacist (February 18, 2011). Truy cập ngày 20 tháng 3, 2012.
9 "Spring (political terminology)," Wikipedia. Truy cập ngày 21 tháng 3, 2012.

Xem tiếp phần (2)
Đầu Xuân 2012
Nam Hải Trường Sơn
Copyright © 2012 Nam Hải Trường Sơn

12 comments:

Nặc danh nói...
Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.
Nặc danh nói...
Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.
Nặc danh nói...
Nhận xét này đã bị quản trị viên blog xóa.
Nặc danh nói...

Xin bác Nam Hải Trường Sơn cho mình đăng lại bài này nhé, bài có nhiều tư liệu nghiên cứu rất tỉ mỉ.

Nặc danh nói...

Hello there! Do you know if they make any plugins to safeguard against hackers?

I'm kinda paranoid about losing everything I've worked hard on.
Any tips?
Look at my web blog :: Www.Doblajemexicano.Com.Mx

Nặc danh nói...

When someone writes an article he/she keeps the image of a user in his/her brain that how a user
can understand it. Thus that's why this post is outstdanding. Thanks!
My web-site ; Http://Meta-World.Com/Index.Php?Do=/Blog/83100/Get-The-Fastest-Quick-Loan/

Nặc danh nói...

I would like to thank you for the efforts you have put in writing this website.
I really hope to see the same high-grade blog posts by you in the future as well.
In fact, your creative writing abilities has encouraged me to get my own blog
now ;)
My site - your fast cash loans

Nặc danh nói...

I'm amazed, I have to admit. Seldom do I encounter a blog that's equally educative and interesting,
and let me tell you, you have hit the nail on the head.
The issue is something that not enough people are speaking
intelligently about. I'm very happy I stumbled across this during my hunt for something concerning this.
Also visit my web-site www.redolive.com.au

Nặc danh nói...

WOW just what I was looking for. Came here by searching for bribery
My page - AE Same Day Loans

Nặc danh nói...

After looking at a handful of the blog articles on your
blog, I seriously appreciate your way of blogging.
I bookmarked it to my bookmark site list and will be checking back in the near
future. Take a look at my web site as well and tell me what you
think.
Feel free to surf my blog :: Www.lacaliforniaitaliana.It

Nặc danh nói...

Post writing is also a fun, if you be acquainted with afterward you can write if
not it is complex to write.
Here is my web-site ... http://www.playwares.com

Nặc danh nói...

Hi to every one, it's in fact a pleasant for me to go to see this web site, it includes helpful Information.
Also visit my webpage ; yourfastcashloan

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn