Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 29 tháng 06 năm 2012

Bài Thuyết Giảng Nobel Của Bà Aung San Suu Kyi


Kính thưa Quốc Vương Hoàng Hậu Bệ Hạ, Thái Tử Điện Hạ, Quý Ngài Quan Khách, Thành Viên Lỗi Lạc của Ủy Ban Nobel Na Uy, Các Bạn Thân Mến:

Cách đây nhiều tháng năm dài, lắm lúc tưởng chừng như đã trải qua bao số kiếp, khi còn sinh sống tại Oxford, tôi từng có dịp cùng với đứa con trai nhỏ, Alexander, theo dõi chương trình phát thanh Các Đĩa Nhạc Trên Hoang Đảo. Đómột chương trình nổi tiếng (và theo tất cả những gì tôi biết, hiện giờ vẫn còn đang tiếp tục), đó là nơi mà các danh nhân từ khắp mọi nẻo đường đời được mời đến để thảo luận về tám đĩa nhạc, một món xa xỉ phẩm, và một cuốn sách (không thuộc nhóm Kinh Thánh và toàn btác phẩm của Sheakspeare) mà họ muốn có bên mình trong trường hợp bị bỏ rơi trên một hoang đảo. Cả hai mẹ con chúng tôi thích thú theo dõi và khi chương trình chấm dứt Alexander hỏi liệu tôi có nghĩ rằng một ngày nào đó tôi có khả năng được mời đến nói chuyện trên chương trình ấy hay không. “Sao không?” tôi trả lời qua loa. biết rằng nói chung chỉ có những nhân vật nổi tiếng mới đến tham gia chương trình này, nên Alexander lại tiếp tục hỏi tôi, bng một mối quan tâm chân thành, vì nguyên do nào mà tôi nghĩ tôi có khả năng được mời. Tôi suy nghĩ một thoáng rồi trả lời: “Có lẽ bởi vì lúc đó mẹ đã đoạt được Giải Nobel về văn chương,” và cả hai mẹ con cùng cười. Triển vọng ấy nghe qua thật thú vị nhưng khó có khả năng trở thành hiện thực.
(Bây giờ tôi không còn nhớ vì sao tôi đã trả lời như thế, chắc có lẽ vì lúc ấy tôi vừa đọc xong một tác phẩm của một Khôi Nguyên Nobel nào đó, hoặc có lẽ vì danh nhân trên chương trình Hoang Đảo hôm ấy là một văn sỹ nổi tiếng.)
Vào năm 1989, khi Michael Aris, người chồng hiện giđã quá cố của tôi, đến thăm trong lúc tôi đang bị quản thúc tại gia lần đầu, anh báo cho tôi hay rằng một người bạn, John Finnis, đã đề cử tôi tranh Giải Nobel Hòa Bình. Lần nầy tôi cũng lại cười. Michael thoáng ngạc nhiên, nhưng rồi hiểu ngay tại sao tôi lại buồn cười. Giải Nobel Hòa Bình? Một triển vọng thú vị, nhưng cơ hồ không có khả năng xảy ra! Thế thì tôi đã cảm tưởng gì khi thực sự được trao Giải Nobel Hòa Bình? Câu hỏi này đã được đặt ra với tôi nhiều lần và chc chn đây là cơ hội thích đáng nhất để xem xét Giải Nobel có ý nghĩađối với tôi, và hòa bình có ý nghĩa đối với tôi.
Như tôi đã lập lại lm lần trong nhiều cuộc phỏng vấn, tôi nghe tin mình được trao Giải Nobel Hòa Bình trên đài phát thanh vào một buổi tối. Điu đó tuyệt nhiên không làm cho tôi ngạc nhiên lắm vì trước đó một tuần tôi được nhắc đến trên một số chương trình truyền thông là một trong những ứng viên hàng đầu của giải thưởng này. Trong lúc soạn thảo bài diễn văn này, tôi đã cố gắng hết sức đhồi tưởng lại phản ứng tức thời của tôi đã ra sao đối với bản tin công bố giải thưởng ấy. Tôi không còn chắc lm, nhưng tôi nghĩ đại đ như thế này: “Ồ, thế là họ đã quyết định trao giải thưởng ấy cho mình.” Cảm tưởng ấy dường như chẳng mấy chân thật bởi vì trong một ý nghĩa nào đó tôi cảm thấy chính mình cũng chẳng thực sự hiện hữu trong khoảnh khắc ấy.
Trong thời gian bị quản thúc tại gia, tôi thường xuyên cảm thấy hình như mình không còn là một phần của thế giới hiện thực nữa. Có căn nhà tạo nên thế giới riêng cho tôi, có một thế giới của những người mất tự do như tôi đang chung sống với nhau trong ngục tù như một cộng đồng, và có một thế giới của những người tự do; mỗi thế giới là một hành tinh khác nhau đang mưu cầu một quĩ đạo riêng biệt cho chính mình trong một vũ trụ dửng dưng. Tác động của Giải Nobel Hòa Bình là lại lần nữa đã kéo tôi trở v với thế giới của nhân loại ở bên ngoài khu vực cô lập mà tôi đã sống, và đã khôi phục cảm giác chân thật cho tôi. Tất nhiên điều này không xảy ra ngay lập tức, nhưng khi tháng ngày trôi qua và khi tin tức về những phản ứng đối với giải thưởng lan truyền qua làn sóng truyền thông, tôi mới bắt đầu thấu hiểu ý nghĩa của Giải Nobel. Nó đã khiến tôi thực sự hiện hữu thêm một lần nữa; nó đã kéo tôi về với cộng đồng nhân loại bao la. Và điều quan trọng hơn là Giải Nobel đã khiến thế giới chú ý tới công cuộc đấu tranh dân chủ và nhân quyền tại Miến Điện. Chúng tôi đã không bị lãng quên.
Bị lãng quên. Người Pháp nói chia ly là chết đi một tí. Bị lãng quên cũng là chết đi một tí. Bị lãng quên là đánh mất đi một số khâu liên kết neo chặt chúng tôi với phần còn lại của nhân loại. Trong chuyến viếng thăm Thái Lan mới đây của tôi, khi tôi gặp những người di cư lao động và tỵ nạn từ Miến Điện đến, nhiều người đã kêu gào thảng thốt: “Xin đừng quên chúng tôi!” Ý họ muốn nói: “Xin đừng quên cảnh ngộ của chúng tôi, xin đừng quên làm những gì bà có thể làm để giúp đỡ chúng tôi, xin đừng quên chúng tôi cũng cùng thuộc về thế giới của bà.” Khi Ủy Ban Nobel trao Giải Nobel Hòa Bình cho tôi, họ đã thừa nhận rằng những người bị đàn áp và cô lập tại Miến Điện cũng là một phần của thế giới, họ đã thừa nhận tính nhất thể của nhân loại. Bởi vậy đối với tôi, việc tiếp nhận Giải Nobel Hòa Bình có nghĩa là chính cá nhân mình phải nới rộng mối quan tâm về dân chủ và nhân quyền ra ngoài lãnh thổ quốc gia. Giải Nobel Hòa Bình đã mở ra một cánh cửa trong lòng tôi.
Khái niệm hòa bình của người Miến Điện có thể được giải thích là niềm hạnh phúc phát sinh từ sự đoạn tuyệt những yếu tố ngăn trở sự hòa hợp và toàn vẹn. Từ nyein-chan dịch theo nghĩa đen là sự mát dịu hữu ích khởi sinh một khi ngọn lửa đã được dập tắt. Ngọn lửa của khổ đau và xung đột đang hoành hành khắp nơi trên thế giới. Tại đất nước chúng tôi, hận thù vẫn chưa chấm dứt ở miền cực bắc; ở phía tây, bạo lực giữa các nhóm sắc tộc dẫn đến nạn đốt phá nhà cửa và chém giết nhau vừa mới xảy ra chỉ vài hôm trước khi tôi bắt đầu cuộc hành trình đ đến đây hôm nay. Tin tức về những cuộc bạo hành ở các nơi khác trên trái đất lúc nào cũng đầy rẫy. Những tường trình về nạn đói, bệnh tật, ly tán, thất nghiệp, nghèo khổ, bất công, kỳ thị, thành kiến, cuồng tín: tất cả là thực trạng hàng ngày của chúng ta. Đâu đâu cũng có mặt những lực lượng tiêu cực đang ăn mòn các nền tảng hòa bình. Đâu đâu cũng có thể chứng kiến tình trạng phung phí một cách vô ý thức những nguồn tài nguyên vật chất và nhân lực cần thiết để duy trì hài hòa và hạnh phúc trong thế giới của chúng ta.
Đệ Nhất Thế Chiến tiêu biểu cho một sự lãng phí kinh khủng về tuổi trẻ và tiềm năng, một sự tiêu hoang tàn khốc những lực lượng tích cực trên hành tinh của chúng ta. Thi ca của thời kỳ này có một ý nghĩa đặc biệt đối với tôi bởi vì lần đầu tiên tôi đọc loại thơ đó là khi tôi mới bước vào lứa tuổi ngang ngửa với những chàng trai trẻ đang phải đối mặt với hiểm họa tàn tạ trước lúc chớm nở. Trước khi tử trận vào năm 1916, một thanh niên Mỹ chiến đấu cùng với Binh Đoàn Lê Dương của Pháp đã viết rằng anh ta có thể gặp gỡ cái chết: “ở một chiến lũy tranh chấp nào đó;” “trên một sườn đồi tan hoang, loang lỗ vết tích bom đạn nào đó,” hay “giữa đêm khuya tại một thành phố đang ngùn ngụt bốc cháy.” Tuổi trẻ, tình yêu và cuộc sống vĩnh viễn bị hủy hoại bằng những nỗ lực vô nghĩa nhằm chiếm lấy những nơi chốn vô danh, chẳng còn ai nhớ tới. Và để làm gì? Gần một thế kỷ đã trôi qua nhưng chúng ta vẫn chưa tìm ra câu trả lời thỏa đáng.
Nếu xét từ một mức độ ít thô bạo hơn, phải chăng chúng ta vẫn chưa cảm thấy tội lỗi vì thái độ liều lĩnh và hoang phí đối với tương lai cũng như tấm lòng nhân đạo của chúng ta? Chiến tranh không phải là đấu trường duy nhất để bức tử hòa bình. Bất cứ nơi nào đau khổ bị phớt lờ nơi đó sẽ có mầm mống xung đột, bởi vì đau khổ hạ thấp phẩm giá con người, cấu tạo đắng cay và cuồng nộ.
Một khía cạnh tích cực của cuộc sống cô lập là tôi có rất nhiều thời gian để nghiền ngẫm về ý nghĩa của những ngôn từ và giới luật mà trước đó tôi đã biết đến và đã chấp nhận suốt cả cuộc đời. Là một Phật tử, ngay từ khi còn là một đứa trẻ thơ, tôi đã được nghe về dukha, mà thường được dịch tổng quát là khổ. Có thể nói là gần như mỗi ngày, những người già, mà nhiều khi chưa hẳn đã già lắm, sống quanh tôi thường hay thì thầm “khổ, khổ” mỗi khi họ phải chịu đựng những cơn đau nhức, hoặc khi họ gặp phải những tai nạn không may, bực dọc nho nhỏ. Tuy nhiên, chỉ trong những năm tháng bị quản thúc tại gia tôi mới quay lại truy tầm đến tận căn gốc bản chất của sáu điều khổ lớn. Đó là: sinh, lão, bệnh, tử, xa lìa người thân, và bị ép buộc sống gần gũi với người mà mình không yêu thương. Tôi khảo sát từng nỗi khổ ấy, không phải trong bối cảnh tôn giáo mà trong bối cảnh của cuộc sống thường nhật của chúng ta. Nếu khổ đau là một phần không thể tránh khỏi trong cuộc tồn sinh của chúng ta, chúng ta nên cố gắng giảm thiểu nó càng nhiều càng tốt bằng những cách thức thực dụng và trần thế. Tôi đã suy ngẫm về hiệu năng của những chương trình tiền-và-hậu sản cũng như việc chăm sóc sản phụ và trẻ em; về những tiện nghi cần thiết cho lớp dân số bước vào tuổi già; về những dịch vụ y tế toàn diện; về những chương trình nuôi dưỡng nhân đạo và các trung tâm tế bần. Tôi đặc biệt quan tâm đến hai loại khổ đau sau cùng: khổ do bị chia ly với người mình yêu thương và khổ do bị buộc phải sống gần gũi với người mình không yêu thương. Đức Phật của chúng ta đã trải nghiệm những gì trong đời mà khiến Ngài phải gộp nhập hai trạng thái này vào trong sáu điều đau khổ lớn? Tôi đã nghĩ đến những tù nhân và những người tỵ nạn, nghĩ đến những công nhân di cư và những nạn nhân của tội buôn người, nghĩ đến khối quần chúng lớn lao trên địa cầu bị bật gốc rễ, bị kéo giật khỏi gia cư, phải xa lìa người thân và bạn hữu, buộc phải sống cho hết đời giữa những người xa lạ không phải lúc nào cũng muốn hoan nghênh mình.
Chúng ta may mắn được sống trong thời đại mà phúc lợi xã hội và trợ giúp nhân đạo được công nhận không phải chỉ là điều ước muốn mà còn là một nhu cầu cần thiết. Tôi thấy may mắn được sống trong một thời đại mà số phận của những tù nhân lương tâm ở bất cứ nơi đâu đều trở thành mối quan tâm của mọi dân tộc khắp mọi nơi, thời đại mà dân chủ và nhân quyền được công nhận một cách rộng rãi, cho dù vẫn chưa phổ quát, là những quyền bẩm sinh của tất cả mọi người. Trong những năm bị quản thúc tại gia, tôi thường xuyên vin vào những đoạn mà tôi tâm đắc nhất trong lời nói đầu bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền để tiếp thêm nguồn sức mạnh cho bản thân không biết đã bao lần:
……. việc coi thường và khinh miệt nhân quyền đã đưa tới những hành động dã man làm phẫn nộ lương tâm nhân loại, và hiện thân của một thế giới mà trong đó mọi người được hưởng tự do ngôn luận và tín ngưỡng cũng như được giải thoát khỏi  sợ hãi và khốn cùng đã được tuyên xưng là nguyện vọng cao cả nhất của người thường dân,
……. điều cốt yếu là nhân quyền phải được một chế độ pháp trị bảo vệ để con người khỏi bị dồn vào thế cùng, phải nổi dậy chống lại áp bức và bạo quyền…
Nếu có người hỏi vì sao tôi tranh đấu cho nhân quyền ở Miến Điện, những đoạn trích trên đây sẽ cung cấp cho họ câu trả lời. Nếu có người hỏi vì sao tôi tranh đấu cho nền dân chủ ở Miến Điện, ấy là vì tôi tin rằng cơ chế và việc thực thi dân chủ là cần thiết để bảo đảm cho nhân quyền.
Trong năm qua, có nhiều dấu hiệu biểu thị nỗ lực của những người tin tưởng vào dân chủ và nhân quyền đang bắt đầu kết trái tại Miến Điện. Đã có những thay đổi theo chiều hướng tích cực; đã có những bước tiến theo chiều hướng dân chủ hóa. Nếu tôi chủ xướng lập trường lạc quan thận trọng, thì điều đó không phải vì tôi không tin tưởng vào tương lai mà chỉ vì tôi không muốn cổ vũ  niềm tin mù quáng. Nếu không có niềm tin vào tương lai, không có xác tín rằng những giá trị dân chủ và nhân quyền căn bản không chỉ là thiết yếu mà còn là khả dĩ cho xã hội của chúng tôi, thì phong trào của chúng tôi đã không thể đứng vững trong nhiều năm tháng có sức hủy diệt ấy. Một số chiến hữu của chúng tôi đã ngã xuống ngay tại đồn lũy, một số khác rời bỏ chúng tôi, nhưng nhóm nòng cốt tận tụy thì vẫn mạnh mẽ và kiên định. Nhiều lúc nghĩ về những năm tháng đã qua, tôi cảm thấy rất ngạc nhiên là đã có rất nhiều chiến hữu giữ được tinh thần kiên định trước những hoàn cảnh thử thách cam go nhất. Niềm tin mà họ đặt vào sự nghiệp của chúng tôi không hề mù quáng; niềm tin ấy dựa trên sự đánh giá sáng suốt về sức nhẫn nại của chính họ, và lòng kính trọng sâu sắc đối với những khát vọng của dân tộc chúng tôi.
Chính do những thay đổi gần đây tại đất nước chúng tôi mà hôm nay tôi được gặp gỡ quí vị; và những thay đổi đó có được là nhờ quí vị và những người yêu chuộng tự do và công lý khác đã góp phần kiến tạo một mối nhận thức toàn cầu về hoàn cảnh của chúng tôi. Trước khi tiếp tục nói về đất nước chúng tôi, tôi xin được cất tiếng nói thay cho tất cả những tù nhân lương tâm của chúng tôi. Hiện nay tại Miến Điện vẫn còn nhiều tù nhân như thế. Điếu đáng lo sợ là vì những người bị giam cầm nổi tiếng nhất đã được phóng thích, những người còn lại, những kẻ không ai biết tiếng, sẽ bị lãng quên. Sở dĩ tôi có mặt đứng ở nơi đây hôm nay là vì tôi đã từng là tù nhân lương tâm. Khi quí vị nhìn thấy tôi và lắng nghe tôi nói, xin quí vị hãy nhớ lấy một sự thật thường được nhắc nhở rằng có một tù nhân lương tâm không thôi thì cũng là đã quá nhiều. Con số những tù nhân lương tâm chưa được trả tự do, con số những tù nhân lương tâm chưa được tiếp cận với lợi ích của công lý tại đất nước chúng tôi lớn hơn con số một ấy rất nhiều lần. Xin quí vị hãy nhớ đến họ và xin hãy làm tất cả những gì có thể để giúp họ được trả tự do vô điều kiện và trong thời gian sớm nhất.
Miến Điện là đất nước đa sắc tộc và niềm tin vào tương lai của Miến Điện chỉ có thể xây dựng trên nền tảng của tinh thần đoàn kết chân thực. Kể từ ngày chúng tôi giành được độc lập vào năm 1948, chưa hề có một giai đoạn nào mà chúng tôi có thể tuyên bố là toàn thể đất nước được sống trong cảnh bình yên. Chúng tôi chưa thể phát triển được niềm tin và sự hiểu biết cần thiết để xóa bỏ những căn nguyên gây ra xung đột. Niềm hy vọng được dâng cao nhờ những cuộc ngưng chiến từ đầu thập niên 1990 cho đến năm 2010 để rồi sụp đổ trong vòng vài ba tháng. Một động thái thiếu cân nhắc cũng đủ để phá hủy các cuộc ngừng chiến đã được duy trì trong một thời gian dài. Trong mấy tháng gần đây, những cuộc đàm phán giữa chính phủ và các lực lượng sắc tộc đã và đang đạt tiến bộ. Chúng tôi hy vọng rằng những thỏa thuận ngừng chiến sẽ dẫn đến những dàn xếp chính trị được xây dựng trên nền tảng khát vọng của tất cả các sắc tộc, và trong tinh thần đoàn kết.
Đảng chính trị Liên Đoàn Quốc Gia vì Dân Chủ của tôi và tôi đã sẵn sàng và mong muốn đảm trách bất cứ vai trò nào trong tiến trình hòa giải quốc gia. Những biện pháp cải tổ đã được chính phủ của Tổng thống U Thein khởi động chỉ có thể duy trì được với sự hợp tác khéo léo của tất cả các lực lượng bên trong: quân đội, toàn bộ các sắc tộc, các đảng phái chính trị, truyền thông, các tổ chức xã hội dân sự, cộng đồng doanh nghiệp, và quan trọng hơn hết là công chúng. Chúng tôi có thể nói rằng công cuộc cải cách này chỉ có hiệu quả nếu cuộc sống của nhân dân được cải thiện vàtrên phương diện này, cộng đồng quốc tế đóng một vai trò trọng yếu. Viện trợ nhân đạo và phát triển, các thỏa thuận song phương và đầu tư phải được phối hợp và cân nhắc để bảo đảm rằng những yếu tố này đồng bộ xúc tiến một nguồn tăng trưởng kinh tế, chính trị, và xã hội có tính quân bình và bền vững. Tiềm năng của đất nước chúng tôi là hết sức to lớn. Điều kiện này cần được nuôi dưỡng và phát triển để kiến tạo nên một xã hội không chỉ thịnh vượng hơn mà còn hài hòa và dân chủ hơn để nhân dân chúng tôi có thể sống trong hòa bình, an toàn, và tự do.
Hòa bình trên thế giới của chúng ta là bất khả phân. Chừng nào mà những lực lượng tiêu cực còn mạnh hơn những lực lượng tích cực tại bất kì đâu chừng ấy tất cả chúng ta vẫn phải đối mặt với hiểm nguy. Chúng ta có thể thắc mắc liệu tất cả mọi lực lượng tiêu cực có bao giờ bị loại trừ hoàn toàn chăng. Câu trả lời đơn giản là: “Không bao giờ!” Nhân tính luôn luôn bao gồm cả hai mặt thiện và ác. Tuy nhiên, con người vẫn nắm trong tay khả năng hoạt động để tăng cường thiện tính và giảm thiểu hay vô hiệu hóa ác tật. Hòa bình tuyệt đối trong thế giới chúng ta là một mục tiêu không thể đạt được. Nhưng đó là một mục tiêu mà cuộc hành trình của chúng ta buộc phải tiếp tục hướng đến; mắt chúng ta đăm đăm hướng về mục tiêu đó như người lữ hành trong sa mạc đăm đăm dõi theo ngôi sao dẫn đường đưa mình đến nơi giải thoát. Ngay cả khi chúng ta không đạt được hòa bình hoàn hảo trên trái đất, bởi vì hòa bình hoàn hảo không thuộc về trái đất này, những nỗ lực chung để đạt đến hòa bình sẽ đoàn kết mọi cá nhân và mọi dân tộc trong niềm tin tưởng và tình thân hữu và hỗ trợ cho việc kiến tạo một cộng đồng nhân loại an toàn hơn và nhân từ hơn.
Tôi sử dụng từ “nhân từ hơn” sau biết bao cân nhắc thận trọng; tôi xin nói đó là sự cân nhắc thận trọng qua nhiều năm tháng. Trong các thú vị của nghịch cảnh, và xin thưa rằng chúng chẳng có được là bao, thì tôi đã tìm thấy được hương vị ngọt ngào nhất, cái quý giá hơn cả, đó là bài học mà tôi đã học được từ giá trị của lòng nhân từ. Mỗi một hành vi nhân từ mà tôi đã được nhận, dù lớn hay bé, đều khiến tôi tin rằng chẳng bao giờ có đủ lòng nhân từ cho thế giới của chúng ta. Nhân từ là đáp ứng nguyện vọng và nhu cầu của tha nhân bằng cảm thông bén nhạy và hơi ấm hồn hậu. Chỉ cần một cái chạm khẽ của lòng nhân từ cũng đủ sức nhấc bỗng một tâm hồn trầm uất. Lòng nhân từ có khả năng thay đổi đời sống con người. Na Uy thể hiện lòng nhân từ mẫu mực bằng cách mở rộng vòng tay đón nhận những người không chốn dung thân trên trái đất này và cho họ một mái ấm gia đình, bằng cách cung cấp nơi ẩn náu cho những kẻ bị xua đuổi ra khỏi bến bờ an toàn và tự do trên chính quê hương của mình.
Người tị nạn hiện diện khắp tất cả mọi miền trên thế giới. Vừa qua khi tôi đến thăm trại tị nạn Maela ở Thái Lan, tôi đã gặp những người rất tận tụy cố gắng hết sức mình mỗi ngày để chăm lo cho cuộc sống của người trong trại bớt được gian khổ phần nào hay phần đó. Họ bày tỏ mối quan ngại của người tỵ nạn đối với “sự mỏi mệt của nhà tài trợ,” mà cũng có thể diễn dịch thành “sự mỏi mệt của lòng trắc ẩn.” “Sự mỏi mệt của nhà tài trợ” tự bộc bạch một cách chính xác qua việc cắt giảm nguồn tài trợ. Nhưng “sự mỏi mệt của lòng trắc ẩn” không tự bộc bạch một cách hiển nhiên qua việc cắt giảm quan tâm. Cái này là hậu quả của cái kia. Liệu chúng ta có thể nuông chiều sự mệt mỏi của lòng trắc ẩn chăng? Phải chăng cái giá đáp ứng những nhu cầu của người tị nạn nặng hơn cái giá phải trả cho hậu quả của việc dửng dưng đứng nhìn, nếu không muốn nói là nhắm mắt lại, trước nỗi khổ đau của họ? Tôi khẩn thiết kêu gọi những nhà tài trợ trên toàn thế giới hãy cung cấp đầy đủ các nhu cầu thiết yếu cho những người đang tìm kiếm chốn dung thân này, mà lắm khi chỉ là sự tìm kiếm trong vô vọng.
Tại trại Maela, tôi đã có những cuộc thảo luận quí giá với các viên chức Thái Lan điều hành tỉnh Tak, nơi có trại tị nạn Maela này và nhiều trại khác. Họ cho tôi biết về một số vấn nạn nghiêm trọng hơn liên quan đến các trại tị nạn: vi phạm luật bảo vệ rừng, sử dụng thuốc nghiện bất hợp pháp, cất nấu rượu lậu, những vấn nạn trong công tác kiểm soát bệnh sốt rét, bệnh lao phổi, sốt xuất huyết và bệnh dịch tả. Những quan ngại của cơ quan công quyền cũng chính đáng như những quan ngại của người tị nạn. Các quốc gia chủ nhà cũng đáng được quan tâm và hỗ trợ cụ thể để đối phó với những khó khăn liên quan đến trách nhiệm của họ.
Mục tiêu tối hậu của chúng ta là phải tạo ra một thế giới không còn những con người tha phương, vô gia cư, và vô vọng, một thế giới mà từng góc nhỏ là mỗi thánh đường nơi mỗi cư dân có tự do và khả năng sống trong hòa bình. Mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động góp phần làm tăng trưởng tính tích cực và tính toàn vẹn là đều góp phần xây dựng hòa bình. Mỗi một chúng ta đều có khả năng thực hiện việc đóng góp ấy. Chúng ta hãy chung tay để gắng sức kiến tạo một thế giới hòa bình, nơi mà chúng ta có thể ngon giấc bình yên và thức dậy tràn trề hạnh phúc.
Ủy Ban Nobel kết thúc bản tuyên bố đề ngày 14 tháng 10 năm 1991 bằng dòng chữ: “Thông qua việc trao tặng Giải Nobel Hòa Bình . . . cho bà Aung San Suu Kyi, Ủy Ban Nobel Na Uy mong ước được vinh danh người phụ nữ này vì những nỗ lực không mệt mỏi của bà, mong ước được bày tỏ sự ủng hộ của chúng tôi đối với rất nhiều cá nhân trên toàn thế giới đang nỗ lực thu đạt thành quả dân chủ, nhân quyền và hòa giải dân tộc bằng những phương tiện hòa bình.” Khi tôi tham gia phong trào dân chủ tại Miến Điện tôi không hề nghĩ đến khả năng một ngày nào đó tôi có thể được trao tặng bất cứ một giải thưởng hay vinh dự nào. Giải thưởng mà chúng tôi đã cố sức để giành lấy là một xã hội công bằng, an toàn, và tự do để nhân dân chúng tôi có thể hiện thực hóa trọn vẹn tiềm năng của mình. Vinh dự ấy đã tiềm tàng trong nỗ lực của chúng tôi. Lịch sử đã ban cho chúng tôi một cơ hội để cống hiến tâm huyết cho sự nghiệp mà chúng tôi đặt trọn niềm tin. Khi Ủy Ban Nobel chọn vinh danh tôi, con đường mà tôi đã chọn theo ý nguyện tự do của mình đã trở thành một hành trình bớt đơn độc hơn. Do vậy tôi xin cảm ơn Ủy Ban, cảm ơn nhân dân Na Uy cùng tất cả các dân tộc khắp nơi trên thế giới đã ủng hộ để giúp tôi tăng cường niềm tin trong công cuộc tìm kiếm hòa bình chung. Xin cảm ơn quý vị.
Tác giả: Aung San Suu Kyi
Dịch giả: Hồ Kim Sơn
Nguồn: Nobel Lecture by Aung San Suu Kyi
 Oslo, 16 June, 2012

1 comments:

Nặc danh nói...

Aung San Suu Kyi Nobel Peace Prize Speech

http://www.youtube.com/watch?v=wRYyEk-5zoI

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn