Những đòi hỏi chủ quyền chồng chéo tại các hải đảo và ám tiêu trên Biển Đông đã khiến căng thẳng leo thang. Nhưng chẳng bao lâu nữa chúng sẽ bị xếp vào loại yêu sách lỗi thời.Với trữ lượng dầu hỏa — tuy vẫn chưa được chứng thực — khoảng từ 28 đến 213 tỉ thùng, cũng như nhiều lớp khoáng sản đồ sộ dưới đáy biển, và tiềm năng hải sản đạt mức hàng triệu tấn, những yêu sách chủ quyền trên khu vực tranh chấp có diện tích 1,3 triệu dặm vuông tại Biển Đông đã trở thành một tiêu điểm ngày càng được cộng đồng quốc tế quan tâm. Hiện thời có bảy nước thành viên ASEAN [sic, sự thực là sáu nước thành viên ASEAN và Trung Quốc] đang đối chọi nhau để giành quyền kiểm soát vùng biển này. Trong quá khứ, tranh chấp đã dẫn đến xung đột công khai giữa Trung Quốc và Việt Nam vào giữa thập kỷ 1970, cũng như nhiều đợt phô trương vũ lực trong thời gian gần đây hơn. Nhưng vào lúc triều dâng hầu hết các vòng san hô, bờ đá và hải đảo trong lòng Biển Đông chỉ trồi lên khỏi mặt nước biển khoảng vài tấc, còn giữa mùa bão thì lúc nào cũng bị ngập lụt khiến cư dân phải di tản. Với mực nước biển sẽ gia tăng khoảng từ 4 đến 8 tấc trong khoảng thời gian còn lại của thế kỷ này — theo những dự đoán dựa trên tiến trình biến đổi môi trường — chuyện gì sẽ xảy ra nếu những khu vực "khô" của Biển Đông bị nhấn chìm?
Mực Nước Biển Dâng
Vào năm 2007, Ủy Ban Liên Chính Phủ Về Biến Đổi Khí Hậu (IPCC) của Liên Hiệp Quốc, một trong những tổ chức dẫn đầu thế giới về khả năng theo dõi mực nước biển dâng và biến đổi khí hậu, dự báo rằng đến cuối thế kỷ này nhiệt độ của địa cầu sẽ gia tăng khoảng từ 2°F đến 11,5°F khiến mực nước biển dâng cao thêm khoảng từ 4 tấc đến 8 tấc. Tuy nhiên, một trong những quan niệm sai lầm về nguyên nhân khiến mực nước biển dâng cao là nhận định cho rằng đó là hậu quả do tiến trình tan băng quanh Bắc Cực và Nam Cực trực tiếp gây ra. Ngược lại, khi nhiệt độ của địa cầu gia tăng, các đại dương nóng lên và bởi vậy thể tích của chúng phồng ra. Gần 57% lượng gia tăng của mực nước biển trong hiện tại thực sự là do hiện tượng này tạo nên, phần còn lại là hậu quả do tiến trình tan chảy của băng đảo, băng hà, và băng chỏm địa cực gây ra. Trong mấy năm vừa qua, Trung Quốc đặc biệt lưu ý đến những mối liên can do sự gia tăng của mực nước biển tạo nên và đang nghiên cứu tầm ảnh hưởng của nó; ngoài ra họ còn thường xuyên theo dõi các hải vực chung quanh biên giới.
Với mực nước biển sẽ dâng cao trong một tương lai không xa, các hải đảo nằm thấp trong lòng Biển Đông rất có khả năng biến mất và kết quả đó sẽ vô hiệu hóa khuông giá của công ước chủ chốt này cũng như nhấn chìm mọi thứ yêu sách liên đới.Trên thực tế, Trung Quốc đã dùng nhiều vệ tinh được trang bị bằng máy đo độ cao tiên tiến và nhiều trạm quan sát hải dương quanh Biển Đông cả mấy chục năm nay để theo dõi luồng nước, độ sâu, và biến đổi nhiệt độ trong vùng biển tranh chấp. Phần lớn những thông tin thu thập được bắt đầu triển hiện mối liên quan với hiện tượng mực nước biển đang dâng cao dần dần và được giới truyền thông cũng như các tạp chí khoa học, chẳng hạn như Báo Hải Dương Học Nhiệt Đới (热带海洋学报) và Học Báo Đại Học Hải Dương Trung Quốc (中国海洋大学学报), đăng tải thường xuyên. Một kết luận không thể tranh biện, được rút ra từ đó, là nhiệt độ nước biển đang gia tăng và mực nước biển cũng vậy. Ví dụ, chính phủ Hồng Công, vốn đã bắt đầu theo dõi mực nước biển tại hải cảng Victoria từ năm 1954, phát hiện rằng mực nước biển ở đây mỗi năm trung bình dâng cao thêm 2,8 mm. Khám phá của chính phủ Hồng Công cũng phù hợp với những dự đoán về tốc độ gia tăng của mực nước biển do IPCC đề xuất. Mới nhìn vào, con số này dường như chỉ miêu tả một số lượng tương đối nhỏ. Nhưng nếu xét đến cực hạn của thủy triều và luồng nước tại đây, mực nước biển của Hồng Công có thể dâng cao đến 12 tấc. Rất tiếc là không có thành phố nào trong khu vực duy trì được nhiều kỷ lục số liệu toàn diện như Hồng Công.
Tranh Chấp Và Giới Hạn Của UNCLOS
Các nước tranh chấp hiện thời tại Biển Đông viện dẫn muôn vàn hiệp ước biên giới và vô số yêu sách có đến cả vài ngàn năm lịch sử để ủng hộ cho lập trường của họ. Tuy nhiên, kể từ năm 1982, Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) đã trở thành diễn đàn mới nhất và quan trọng nhất để giải quyết hoặc phản bác những yêu sách này. Về phía Trung Quốc, họ đã phê chuẩn UNCLOS vào năm 1994 và biện hộ cho yêu sách của mình tại Biển Đông bằng lời tuyên bố gần đây rằng họ có "chủ quyền không thể tranh cãi" tại vùng biển tranh chấp.
Một số thông tin cơ bản: Biên giới do UNCLOS phân định chỉ dựa vào phần đất "nằm trên" mực nước biển tính theo tiêu chuẩn 24 giờ mỗi ngày và đường cơ sở thông thường được xem là có cùng ranh giới với mốc thủy triều lúc thấp nhất chạy dọc theo bờ biển. Tính từ đường cơ sở, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được phép nới rộng ra khơi 200 hải lý (khoảng 230 dặm). Quyền lợi của các địa mạo trên biển, chẳng hạn như ám tiêu (bãi đá hoặc bờ cát), nói chung chỉ được hạn chế trong vùng lãnh hải (12 hải lý hay khoảng 14 dặm). Ngược lại, các hải đảo thông thường được định nghĩa là có nguồn nước ngọt và như vậy được hưởng chủ quyền trên vùng lãnh hải cọng thêm đặc quyền trên vùng EEZ.
Nhưng chính những đòi hỏi chủ quyền trên từng hải đảo riêng lẻ nằm rải rác quanh Biển Đông đã tạo nên tình trạng chồng chéo của yêu sách cũng các như khu vực cạnh tranh và đó là lý do khiến việc phân xử tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông càng khó giải quyết. Tuy Phần XV của công ước này quy định các cơ chế pháp lý để phân xử tố tụng nếu tranh chấp xảy ra, chẳng có điều khoản nào nêu rõ vấn đề cần được tiến hành ra sao trong trường hợp những hải đảo này bị chìm ngập hoàn toàn hoặc bộ phận. Gạt những diễn biến mới đây sang một bên, sau nhiều thập kỷ tranh cãi, chủ quyền lãnh thổ trên Biển Đông vẫn y nguyên là một vấn đề chưa ngã ngũ. Cần phải đợi thêm vài chục năm nữa trước khi những yêu sách này có hy vọng được giải quyết thỏa đáng và đến lúc đó có lẽ khu vực tranh chấp đã bị nhấn chìm hoàn toàn. Ai cũng tưởng rằng những quốc gia ký kết hiệp ước này đã lồng vào những quy chế để xử lý tình huống có thể xảy ra này. Nhưng họ chẳng hề làm điều đó.
Yêu Sách Chết Đuối
Với mực nước biển sẽ dâng cao trong một tương lai không xa, các hải đảo nằm thấp trong lòng Biển Đông rất có khả năng biến mất và kết quả đó sẽ vô hiệu hóa khuông giá của công ước chủ chốt này cũng như nhấn chìm mọi thứ yêu sách liên đới. Đối với Trung Quốc, một bộ phận EEZ rất lớn lao của họ có tiềm năng thất thoát, tính theo tham vọng được vạch rõ bởi con đường chín đoạn lan rộng khắp Biển Đông một cách bỉ ổi của họ. Trong bối cảnh mực nước biển dâng cao, Trung Quốc không thể nấn ná mà phải nhanh chóng củng cố và hợp pháp hóa yêu sách của họ bằng các phương tiện ngoại giao hoặc vũ lực. Tương tự, các nước tranh chấp khác cũng nên thực hiện điều đó.
Có một số đường lối khác nhau mà Trung Quốc và các nước khác có thể theo đuổi. Giải pháp đơn giản và chắc chắn nhất là tiếp tục xây dựng thêm cũng như củng cố những cấu trúc hiện tại đang nằm trong quyền kiểm soát của họ tại Biển Đông để chống lại hiện tượng mực nước biển dâng. Về cơ bản, tình huống này sẽ có tác dụng duy trì hiện trạng. Tuy nhiên, nếu xét đến những diễn biến mới xảy ra gần đây tại Biển Đông và Biển Hoa Đông, giải pháp này có lẽ khó đạt được trong thời hạn ngắn.
Thay vào đó, nếu khu vực đòi hỏi của các nước tranh chấp bị ngập lụt hoàn toàn khiến họ chỉ có thể dùng đường cơ sở của lãnh hải, thì tính giản phác của vùng EEZ 200 hải lý tính từ đường cơ sở sẽ khiến tình hình trở nên rõ ràng hơn trên bản đồ và nhờ đó cộng đồng quốc tế có thể dễ dàng phân xử tranh chấp hơn. Tuy nhiên tình huống này không hẳn sẽ khiến các yêu sách chủ quyền trở nên dễ chịu hoặc càng có thể được chấp nhận hơn đối với bất cứ quốc gia đương sự nào, kể cả Trung Quốc. Đáng tiếc là Hội Nghị Biến Đổi Khí Hậu tại Băng Cốc đã không tạo dựng được cơ hội nào để các quốc gia đương sự thảo luận mối tương quan giữa những khả năng có thể xảy ra này và khuông giá của UNCLOS. Cuối cùng, trong khi tình huống này vẫn cứ tiếp diễn tại Biển Đông, chúng ta có thể xem đó là một dấu hiệu tốt đối với các quốc gia có hải đảo hoặc bờ biển chịu ảnh hưởng của mực nước biển, cũng như đối với việc dự phòng các yêu sách chủ quyền đang nảy nở tại vùng Bắc Cực.
Tác giả: Wilson VornDick
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: The Diplomat











0 comments:
Đăng nhận xét