Blog Nam Hải Trường Sơn Hân Hạnh Đón Chào Bạn



Đối với bạn, nỗi lo lắng của vợ chẳng khác gì bát nước lã—nhạt nhẽo vô vị, chỉ đến khi nhuốm bệnh bạn mới cảm thấy hương nó nồng, vị nó ngọt. Còn niềm ân cần của tình nhân thì giống hệt ly đá chanh—giữa mùa hè một ngày một ly e rằng chẳng đủ để giải khát. Trong khi đó, mối quan tâm của hồng nhan tri kỷ thì thoang thoảng như tách cà phê nóng—làm việc mệt nhoài đến nửa đêm, càng nhâm nhi càng cảm thấy tỉnh táo.
Câu Chuyện... Để Đời
Tuyết rơi tầm tã. Trời đất mông lung sau tấm màn trắng xám. Núi đồi trùng trùng điệp điệp nhưng chẳng thấy bóng chim bay. Vạn nẻo đường đi vắng hoe không một vết chân người. Chỉ có một chiếc tam bản cô đơn... bồng bềnh giữa dòng sông buốt giá.

Eleanor Roosevelt once said, "The future belongs to those who believe in the beauty of their dreams." It is time for those still intoxicated with power and corruption in Vietnam to sober up and purify themselves to join hands with the flag-wavers ...

Việt Nam: Con Hổ Cùng Đồ Mạt Lộ
Giống như tại Trung Quốc, ĐCSVN cũng bám chặt vào hệ thống xí nghiệp nhà nước để tạo phương tiện áp đặt quyền kiểm soát chính trị vào nền kinh tế. Tuy nhiên tầng lớp quản lý kinh tế có quan hệ chính trị nhưng bất tài lại được phép ...

Ai Sẽ Thống Trị Thế Giới?
Tất cả mọi kế hoạch này đều có thể thực hiện được bởi vì người Hoa Kỳ đã vùng dậy để đấu tranh cho lý tưởng bình đẳng chính trị, và hệ thống chính trị Hoa Kỳ đã triển khai đầy đủ sức bao dung để tạo điều kiện cho họ làm điều đó.

Tán Tỉnh
Này em mình gặp ở đâu
Sao mà như thể quen lâu lắm rồi
À ... ha ... có phải từ hồi
Em sang gánh nước bên đồi thông xanh
Lối về khúc khuỷu tròng trành
Nước vương ướt áo nhìn anh bẽ bàng


Bắc Kinh Là Cơn Ác Mộng Vĩnh Hằng
Bên kia là một thành phố tràn trề tuyệt vọng. Tôi gặp họ trên những chiếc xe buýt công cộng, tôi nhìn vào đôi mắt của họ và tôi thấy họ chẳng ôm ấp hy vọng gì. Thậm chí họ chẳng thể tưởng tượng..


Mẹ Cá Bống
Nhớ thuở lên ba
Mẹ ẳm bồng
Tiếng ru trầm bổng
Vòng tay ấm
Chén cơm hâm nóng
Môi thổi


Khổ Hạnh
Linh hồn anh hấp hối
Giữa vực sâu tăm tối"
Mất rồi, em mất rồi!
Đời còn ai cứu rỗi"
Áo cà sa mặc vội
Cố quên mùi tóc rối



Ngày 09 tháng 05 năm 2013

Hoa Kỳ Cần Ôn Lại Lý Luận Răn Đe



Hoa Kỳ Cần Ôn Lại Lý Luận Răn Đe

Răn đe bây giờ khác hẳn hồi xưa. Trong hậu bán thế kỷ 20, nó là xương sống của nền an ninh Hoa Kỳ. Thủa ấy người ta thấu triệt mục đích, lô-gic, và hiệu năng của nó. Nó là chiến lược quân sự cốt lõi nằm sau kế hoạch kiềm chế Liên Xô và yếu tố mang tính quyết định đã giúp Hoa Kỳ giành lấy thắng lợi trong cuộc Chiến Tranh Lạnh mà không cần phát động Thế Chiến Thứ 3. Nhưng trong mấy thập kỷ gần đây, răn đe đã đi trệch hướng, và chuyển biến này đang khiến cho chính sách quốc phòng của Hoa Kỳ trở nên tồi tệ hơn.

Kể từ khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc cho đến bây giờ, Hoa Kỳ vẫn cứ bám víu vào chiến lược răn đe ở những nơi mà đáng lý ra họ không nên làm điều đó, kết quả đã khiến cho mối quan hệ Nga-Mỹ xấu thêm một cách không cần thiết. Quan trọng hơn, Hoa Kỳ đã bỏ rơi chiến lược răn đe ở những nơi mà đáng lý ra họ phải kiên trì đeo đuổi nó, kết quả đã dẫn đến một cuộc chiến tai hại không đáng có với Iraq và đang đối mặt với nguy cơ phải gánh chịu hiểm họa của một cuộc chiến khác với Iran. Và quan trọng hơn cả, trong vấn đề đối phó với Trung Quốc, Hoa Kỳ đang bị giằng xé về việc có nên dựa vào chiến lược răn đe hay không, ngay cả khi tình trạng bối rối này có thể dẫn đến khủng hoảng và tính toán sai lầm nguy hiểm tại Bắc Kinh.

Nguyên nhân dẫn đến sai phạm trong việc ứng dụng lý thuyết răn đe bao gồm: (1) sự hiểu lầm về chính bản thân khái niệm này, (2) việc đánh giá không chính xác về các mối đe dọa, (3) thói hay quên về lịch sử, và (4) tính thiển cận trong việc hoạch định chính sách. Đưa những vấn đề này trở về trung tâm điểm có thể phục hồi niềm tin vào chiến lược răn đe ở những nơi mà niềm tin đó đã bị đánh mất, giảm thiểu tổn thất ở những nơi mà chiến lược này không được áp dụng một cách thích đáng, và hạ thấp mức độ nguy hiểm do các biến cố bất ngờ mang lại trong tình huống nguy cơ xung đột không thể xác định rõ ràng.

Răn đe là một chiến lược dùng để kết hợp hai mục tiêu mang tính cạnh tranh nhau: phản kích đối thủ nhưng tránh né việc phát động chiến tranh. Nhiều học giả đã thăm dò vô số biến tấu dựa trên chủ đề đó, nhưng khái niệm cơ bản này rất đơn giản: địch thủ sẽ không ra tay nếu biết rằng kẻ tự vệ có thể đánh bại cuộc tấn công của họ hoặc có thể trả đũa bằng cách giáng cho họ những tổn hại không thể chịu đựng nổi.

Nếu áp dụng chiến lược răn đe vào lúc không cần thiết thì tốt lắm kết quả cũng chỉ là lãng phí tài nguyên. Trong khi đó hệ quả tệ hại nhất là nó có thể dẫn phát, chứ không phải kiềm hãm, xung đột. Và ngay cả khi răn đe được xem là chiến lược thích nghi, nó vẫn có thể sẽ không mang lại hiệu quả mong muốn — chẳng hạn như để đối phó với một địch thủ có khuynh hướng tự sát hoặc có khả năng bảo đảm an toàn khi bị phản kích. Bởi thế, dùng để đối phó với giới chính quyền — tức là những địch thủ có địa chỉ cư trú cố định và muốn sống còn — chiến lược này sẽ hữu dụng hơn so với việc dùng nó để đối phó với các phần tử khủng bố — tức là những địch thủ không thể tìm thấy hoặc không sợ chết. Răn đe cũng còn là một công cụ có hiệu năng yếu kém trong lãnh vực không gian mạng — một lãnh vực ngày càng trở nên quan trọng và đồng thời cũng là nơi mà việc xác nhận thân phận của kẻ tấn công một cách chắc chắn là một vấn đề cực kỳ khó khăn.

Một khi Hoa Kỳ chọn lựa áp dụng chiến lược răn đe và sẵn sàng chiến đấu thì việc cảnh báo về ý định răn đe cần phải rõ ràng và to tiếng — để địch thủ không thể hiểu lầm. Ngôn từ cảnh báo răn đe chỉ nên mập mờ trong trường hợp tháu cáy. Tuy nhiên, một trong những nguy hiểm lớn lao nhất cũng có thể xảy trong tình huống ngược lại, khi Hoa Thịnh Đốn không đưa ra tuyên bố răn đe trước nhưng lại quyết định xuất kích khi phải đối đầu với một cuộc tấn công bất thần. Trạng thái rối ren này đã khiến Hoa Kỳ phải tham gia Chiến Tranh Triều Tiên và Chiến Tranh Vùng Vịnh một cách đột ngột, bất chấp những lời tuyên bố chính thức đã khiến cho kẻ gây hấn tin tưởng rằng Hoa Kỳ sẽ không tham chiến trong cả hai trường hợp.

Răn đe không phải là một chiến lược thích nghi cho mọi mùa. Nó không đảm bảo chắc chắn thành công. Nguy cơ lúc nào cũng tồn tại trong việc dựa vào cũng như bác bỏ chiến lược này khi các biện pháp thay thế đều tồi tệ hơn.

Thô Bạo Không Cần Thiết

Đối với Mạc Tư Khoa, Chiến Tranh Lạnh dường như chỉ mới kết thúc một nửa, vì tư thế răn đe của phương Tây tuy đã im hơi lặng tiếng nhưng vẫn cứ tiếp tục tồn tại. Trong thời kỳ Chiến Tranh Lạnh, răn đe là một chiến lược rất cần thiết vì mối đe dọa của Liên Xô xem ra cực kỳ lớn lao. Năng lực quân sự của Mạc Tư Khoa bao gồm khoảng 175 sư đoàn được nhắm về phía Tây Âu và gần 40.000 vũ khí hạt nhân. Tuy được tranh luận sôi nổi, nhưng ý định của Liên Xô được chính thức xem là cưu mang tính thù địch cao độ. Phản ứng của phương Tây là bố trí dư thừa sức mạnh quân sự để phản kích — qua khối NATO và Quân Đoàn Không Quân Chiến Lược của Hoa Kỳ. Và răn đe đã đứng vững hơn 40 năm. Mặc dù khủng hoảng căng thẳng đã xẩy ra tại Bá Linh và Cuba cũng như có nhiều xung xột ủy nhiệm tại Thế Giới Thứ 3, Mạc Tư Khoa không bao giờ dám trực tiếp phóng xả sức mạnh của họ vào phương Tây. Phái bồ câu không tin rằng răn đe ở mức độ cao như thế là điều cần thiết, nhưng phái diều hâu lại cảm thấy yên tâm vì chiến lược răn đe đã không thất bại trước một mối đe dọa có uy lực mạnh mẽ như thế.

Tuy nhiên răn đe ngấm ngầm vẫn cứ kéo dài dai dẳng sau khi phương Tây đã giành được thắng lợi, vì những lý do như: đòi hỏi của các thành viên cũ của khối Warsaw sau khi họ gia nhập khối NATO, tình trạng suy thoái chính trị của nhà nước Nga thời hậu-Liên-Xô, và sức mạnh tự nhiên của tập quán. Ông Mitt Romney, ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng Hòa năm 2012, chỉ khơi mạch cho một quan điểm chung khi ông ta nói rằng Nga vẫn là "địch thủ địa chính trị số một" của Hoa Kỳ.

Mặc dù phần còn lại của hệ thống hạ tầng cơ sở quân sự mà Hoa Kỳ đã cam kết dành cho khối NATO chỉ cung cấp dịch vụ hỗ trợ hậu cần cho những đặc nhiệm "ngoài khu vực," và dẫu rằng ngân sách quốc phòng Hoa Kỳ đang đi vào giai đoạn tiết chế, hai lữ đoàn tác chiến của quân đội Hoa Kỳ vẫn còn đồn trú tại châu Âu. Những hoạt động này dường như chỉ có ý nghĩa tượng trưng, nhưng kết hợp với kế hoạch mở rộng khối NATO, chúng tạo nên ấn tượng chống đối Mạc Tư Khoa. Hoa Kỳ và Nga vẫn đang tiếp tục đàm phán với nhau để giải quyết các vấn đề liên quan đến kho vũ khí hạt nhân của hai bên. Nhưng nếu họ không e sợ sức mạnh của nhau, không cảm thấy có nhu cầu phải giới hạn những gì mà hai bên có thể mang ra để đối phó nhau trong trường hợp chiến tranh xảy ra, và không muốn cơ chế hóa hoạt động hỗ tương răn đe, thì họ chẳng có lý do gì phải tiến hành việc kiềm chế vũ trang một cách chính thức giữa hai nước.

Những động thái có tính liên kết với Chiến Tranh Lạnh đang được tiếp diễn này chỉ có thể lý giải nếu hai bên ở trong trạng thái đối địch kích liệt. Hoa Thịnh Đốn và Mạc Tư Khoa vẫn duy trì một mối quan hệ đối địch, nhưng đó không phải là một mối quan hệ đối địch kích liệt. Nếu Chiến Tranh Lạnh thực sự đã kết thúc và phương Tây đã thực sự chiến thắng, thì duy trì chiến lược răn đe ngấm ngầm chẳng làm được gì nhiều trước một mối đe dọa không đáng kể từ Mạc Tư Khoa mà trái lại chỉ nuôi dưỡng lòng ngờ vực có khả năng trầm trọng hóa sức ma sát chính trị.

Khác với thời Chiến Tranh Lạnh, hiện tại rất khó duy trì luận điểm cho rằng Nga là một mối đe dọa đối với khối NATO chứ không phải ngược lại. Trước hết, cán cân đo lường năng lực quân sự giữa Đông và Tây — mà vào đỉnh điểm của thời Chiến Tranh Lạnh có xu hướng thiên vị khối Warsaw hoặc tốt nhất cũng biểu thị trạng thái thăng bằng — hiện tại không chỉ đã di chuyển sang phía ưu thế của khối NATO mà đã hoàn toàn mất thăng bằng. Nga bây giờ là thành viên đơn độc của khối Warsaw cũ. Họ không chỉ đã mất hết toàn bộ đồng minh cũ tại Đông Âu; những đồng minh đó bây giờ lại đang giàn trận ở phía đối diện trong tư cách thành viên của khối NATO. Bằng mọi thước đo quyền lực có ý nghĩa — quân phí, lực lượng vũ trang, dân số, sức mạnh kinh tế, quyền kiểm soát lãnh thổ — khối NATO đều chiếm ưu thế lớn lao so với Nga. Năng lực duy nhất đang duy trì uy quyền quân sự cho Nga là kho vũ khí hạt nhân của họ. Tuy nhiên không có một cách thức khả dĩ nào để cho rằng vũ khí hạt nhân của Mạc Tư Khoa có thể được sử dụng để phục vụ cho mục đích xâm lược — ngoại trừ việc giữ vai trò hàng rào hậu vệ cho một cuộc tấn công quy ước và trong trường hợp đó năng lực hiện thời của khối NATO đã vượt quá xa Nga.

Ý đồ của Nga không thể cấu thành một mối đe dọa vượt quá năng lực của họ. Mặc dù giới lãnh đạo chóp bu của Mạc Tư Khoa đang thúc đẩy nhiều chính sách khả ố, nhưng không có một phương thức khả dĩ nào để họ có thể nghĩ rằng tấn công phương Tây bằng sức mạnh quân sự sẽ mang lại lợi ích cho họ. Trong suốt thế kỷ 20, hai bên có nhiều xung đột lãnh thổ kích liệt đi kèm với một cuộc đấu tranh khổng lồ để phân giải vấn đề ý thức hệ của bên nào có thể thống trị thế giới. Nước Nga của Vladimir Putin là một chế độ độc tài, nhưng khác với Liên Xô, nó không phải là đội tiên phong của một lý tưởng cách mạng lan tỏa khắp toàn cầu.

Sự chênh lệch về năng lực giữa Nga và khối NATO không có nghĩa là lợi ích của Nga là điều không đáng quan tâm, hay Hoa Kỳ có thể nhạo báng tính yếu kém về mặt quân sự của Nga một cách vô tội vạ. Nga vẫn là một siêu cường quốc và khuynh hướng liên kết cũng như các chính sách họ hoạch định trong tương lai là một vấn đề quan trọng. Thực vậy, nếu Nga liên kết với một Trung Quốc đang trỗi dậy thì ảnh hưởng chiến lược đối với Hoa Kỳ không phải là chuyện nhỏ. Quá nhiều người Mỹ thản nhiên cho rằng tình trạng đối kháng giữa Nga và Trung Quốc sẽ được tiếp diễn là điều tất yếu; sự thật là Nhật Bản, Hoa Kỳ, và khối NATO đang khích lệ Nga và Trung Quốc gạt bỏ dị biệt sang một bên và đoàn kết lại để phản kháng áp lực của phương Tây.

Thậm chí ngay cả khi mối quan hệ đối tác giữa Nga và Trung Quốc không hiện hữu, đối chọi với Nga cũng có thể dẫn đến nhiều mối nguy cơ không cần thiết. So với khối NATO, vấn đề lãnh thổ duy nhất chưa được giả quyết tại khu vực này có tầm quan trọng cao hơn đối với Mạc Tư Khoa, như cuộc chiến có quy mô nhỏ giữa Nga và Georgia vào năm 2008 có thể minh họa. Nếu khối NATO nới rộng phạm vi răn đe xa hơn nữa bằng cách kết nạp Georgia làm thành viên — một động thái mà chính phủ Obama (cũng như chính phủ George W. Bush trước đó) đã tán thành trên nguyên tắc — thì đó sẽ là một thách thức trực tiếp đối với quyền bảo vệ các khu vực ly khai trong nước của Mạc Tư Khoa. Nó cấu thành một lời tuyên bố thẳng thừng rằng Nga không có một phạm vi ảnh hưởng nào cả — trong khi đó là một đặc quyền thông thường của một cường quốc. Và như vậy NATO sẽ hoàn tất sứ mạng chuyển biến răn đe thành thống trị trắng trợn — đó chính là cái mà Trung Quốc và Liên Xô đã từng cáo buộc một cách giả dối là ý đồ thực sự nằm sau tư thế răn đe của phương Tây. Trong trường hợp tệ hại nhất, kết nạp Georgia vào khối NATO có thể là cọng rơm cuối cùng phá vỡ sức chịu đựng của Nga và dẫn phát khủng hoảng.

Tổn thất do một trong hai kết quả trên mang lại sẽ cao hơn cái giá mà phương Tây phải trả nếu họ tỏ ra kiên quyết hơn trong việc đình chỉ trạng thái sẵn sàng chiến đấu và chấm dứt việc đàm phán để nới rộng khối NATO thêm nữa. Xây dựng một nền hòa bình ổn định với một chế độ chẳng mấy tâm đầu ý hợp tại Mạc Tư Khoa nên được đặt vào vị trí ưu tiên cao hơn việc ủng hộ vô điều kiện các nước láng giềng của Nga. Tuy nhiên, nói cho cùng, nếu khối NATO vẫn còn là một liên minh loại trừ Nga — chứ không phải là một tổ chức an ninh tập thể chân chính, tức là phải bao gồm Nga — thì Mạc Tư Khoa chắc chắn sẽ diễn dịch rằng chính sự tồn tại của NATO mới là một mối đe dọa. Tiến trình củng cố hòa bình tại châu Âu sẽ không hoàn thành nếu hầu hết mọi quốc gia tại châu Âu đều là thành viên của khối NATO ngoại trừ Nga. Cho đến bây giờ, ý niệm kết nạp Nga chỉ là ảo tưởng; ở phương Tây không ai vận động cho điều đó, và chẳng có dấu hiệu gì cho thấy Mạc Tư Khoa sẽ chịu gia nhập nếu được mời. Nhưng cáo buộc của người Nga cho rằng NATO là một mối đe dọa đối với họ sẽ đễ dàng bác bỏ hơn nếu những thành viên của khối này sẵn sàng cân nhắc việc mời Nga tham gia, nếu họ quay trở lại với con đường dân chủ.

Những Bài Học Chưa Thấu Triệt

Răn đe Nga nhiều quá là một sai lầm, nhưng nó không nghiêm trọng bằng cái sai lầm trong chiều hướng ngược lại: bác bỏ răn đe ở những nơi mà răn đe rất mực cần thiết. Sai lầm này đang tạo nguy hại cho nỗ lực của Hoa Kỳ trong việc đối phó với hiểm họa khuếch tán hạt nhân và cụ thể nhất là việc đối phó với Iran. Thay vì trù tính việc răn đe những nước muốn khuếch tán hạt nhân, giới hoạch định chính sách của Hoa Kỳ đã phát triển khuynh hướng chọn lựa chiến tranh ngăn ngừa. Dường như bây giờ họ sợ rằng răn đe là một chiến lược quá yếu ớt không thể đối phó với những chính quyền cực đoan và quên bẵng đi rằng mục đích chân chính của răn đe là để đối phó với những kẻ thù nguy hiểm chứ không phải là những kẻ thù thận trọng. Khuynh hướng này đặc biệt đang gây ra nhiều phiền toái vì nó vẫn cứ tiếp tục thậm chí sau khi hai trải nghiệm đớn đau tại Iraq đã nêu bật một cách sống động lý do tại sao răn đe là chọn lựa tốt hơn.

Chiến lược răn đe đã không giữ một vai trò nào trong khoảng thời gian dẫn đến Chiến Tranh Vùng Vịnh 1990-91 — một cuộc xung đột có quy mô lớn xảy ra lần đầu tiên kể từ khi Chiến Tranh Lạnh kết thúc. Trận công kích Kuwait do Saddam Husein phát động bị nhiều người hiểu lầm là dấu hiệu cho thấy y là kẻ không thể răn đe. Nhưng chẳng có gì để chứng minh điều đó vì Hoa Kỳ không hề ra sức răn đe y. Nếu Saddam biết trước rằng xâm lược Kuwait sẽ thối thúc Hoa Thịnh Đốn kiên quyết phát động chiến tranh để trả đũa thì y chắc chắn đã tự kiềm chế. Nhưng chính phủ George H. W. Bush không hề đưa ra một lời đe dọa nào như thế cả, và nhà độc tài này đã được phép tự do tính toán sai lầm.

Bush không hề chuẩn bị đưa ra hăm dọa răn đe vì việc Iraq xâm lược Kuwait là một biến cố hoàn toàn bất ngờ. Tình huống này giống hệt tình huống đã gây ra một cuộc chiến tranh bất ngờ nhưng có thể tránh khỏi 40 năm trước đó. Năm 1949, Đại Tướng lục quân Hoa Kỳ Douglas MacArthur công khai tuyên bố rằng Nam Hàn không nằm trong phạm vi phòng vệ của Hoa Kỳ; một năm sau đó, Ngọai Trưởng Hoa Kỳ Dean Acheson cũng đưa ra nhiều bình luận có ý nghĩa tương tự. Những tuyên bố này phản ánh việc Hoa Ký đang trù tính một cuộc thế chiến thứ 3 mà trong đó Triều Tiên chỉ là một vấn đề có ưu tiên hạng thấp — đây là lý do tại sao Tổng Thống Hary Truman hoàn toàn cảm thấy kinh ngạc khi Bắc Hàn tấn công Nam Hàn trong khi một cuộc chiến có quy mô lớn hơn chưa xảy ra.

Vào năm 2003, George W. Bush không thể bào chữa bằng lý do bất ngờ. Ông ta cố tình bác bỏ chọn lựa dựa vào chiến lược răn đe để đối phó với Iraq và thay vào đó đã quyết định phát động chiến tranh ngay lập tức để ngăn chận khả năng Iraq có thể dùng vũ khí hủy diệt có quy mô lớn vào một thời điểm nào đó trong tương lai. Kết quả là một thảm họa.

Chẳng thể nào biết được việc dựa vào chiến lược răn đe để kiềm chế Saddam có thể gây nên một thảm họa lớn hơn hay không, như những kẻ xúi giục chiến tranh đã quả quyết. Tuy nhiên, cũng không có bằng cớ gì chứng minh rằng chiến lược răn đe không thể áp dụng một cách vô kỳ hạn đối với Saddam. Y đã phóng túng tiến hành những trận gây hấn lố lăng với Iran vào năm 1980 và Kuwait một thập kỷ sau đó, nhưng đây là những trường hợp mà y có đủ lý do để tin rằng y chẳng phải đối đầu với một kình địch đáng ghờm nào cả. Y là một tên côn đồ lỗ mãng chứ không phải là kẻ muốn tự sát. Y chưa bao giờ dám tấn công nếu phải đối mặt với mối đe dọa rằng Hoa Kỳ sẽ phản kích, y cũng chẳng hề dám sử dụng vũ khí hóa học hoặc sinh học để tự vệ trước cuộc tấn công của Hoa Kỳ vào năm 1991, khi Hoa Thịnh Đốn thực thi chiến lược răn đe bằng cách cảnh cáo sẽ trả đũa bằng sức mạnh hủy diệt trước một cuộc tấn công như thế.

Nỗi lo sợ của chính phủ Hoa Kỳ đối với Iraq — và bây giờ đối với giới lãnh đạo Iran — dường như đã bị phóng đại quá mức nếu được soi xét dưới ánh sáng của những kinh nghiệm mà Hoa Kỳ đã từng trải qua trong thời Chiến Tranh Lạnh. Nhiều vị tổng thống đã suy xét và bác bỏ chiến tranh ngăn ngừa Mao và Stalin, hai nhân vật mà trong lúc nắm chính quyền xem ra càng cuồng tín và hung hăng hơn những đối thủ của Hoa Kỳ ngày nay. Mao đã từng đưa ra những tuyên bố ớn lạnh mà cho đến bây giờ bất cứ lời lẽ nào của giới lãnh đạo tại Tehran vẫn không thể sánh kịp — ví dụ như viễn cảnh của chiến tranh hạt nhân "không phải một chuyện xấu xa" bởi vì hy sinh hai phần ba dân số thế giới là điều đáng làm để đánh bại chủ nghĩa tư bản.

Xét đến những kết quả khả quan của chiến lược răn đe trong thời Chiến Tranh Lạnh và sự thất bại ê chề của chiến lược ngăn ngừa Iraq, nhiều người đã kỳ vọng rằng giới hoạch định chính sách của Hoa Kỳ sẽ phát hiện được rằng răn đe là một chiến lược dự bị rất hấp dẫn trong việc đối phó với Iran nếu họ không thể khuyên can Cộng Hòa Hồi Giáo này hủy bỏ kế hoạch phát triển vũ khí hạt nhân. Nói cho cùng, đó chính là phương thức mà Hoa Thịnh Đốn đang dùng để đối phó với một Bắc Hàn đã có vũ khí hạt nhân. Nhưng giới lãnh đạo của Hoa Kỳ và Do Thái đã tự thuyết phục rằng một ngày nào đó có lẽ Iran sẽ dùng vũ khí hạt nhân — một cách phi lý tính và trong khi chẳng bị ai khiêu khích — để xâm lược. Nhưng chẳng có bằng cớ gì để chứng minh rằng giới lãnh đạo Iran có hứng thú đưa dân tộc họ đi vào con đường tự sát, một hậu quả khó tránh khỏi nếu Iran là kẻ phát động công kích bằng vũ khí hạt nhân trước tiên. Iran ủng hộ các tổ chức khủng bố và biện minh rằng đó phản ứng cần thiết để đối phó với cuộc chiến ngấm ngầm của Hoa Kỳ và Do Thái. Nhưng dẫu động cơ của Iran có hung hăng đến mức nào đi nữa, chế độ cách mạng tại Tehran cũng chưa hề phát động một cuộc chiến tranh quy ước nào để tấn công kẻ thù của họ.

Ấy thế nhưng thay vì trù tính kế hoạch để răn đe Iran về việc phát triển kho vũ khí hạt nhân trong tương lai, Hoa Kỳ và Do Thái lại đặt ưu tiên vào việc chuẩn bị chiến tranh ngăn ngừa. Mặc dù nhiều người vẫn hy vọng có thể thuyết phục Iran hủy bỏ chương trình vũ khí hạt nhân thông qua con đường ngoại giao và các biện pháp chế tài, cuộc tranh luận tại Hoa Kỳ và Do Thái cũng như giữa hai nước này về vấn đề cần phải làm gì nếu Iran tiến hành việc sản xuất bom nguyên tử không phải là để quyết định có nên tấn công hay không mà nên phát động tấn công vào lúc nào. Tổng Thống Obama đã tuyên bố một cách cứng rắn rằng ông ta không có "chính sách kiềm chế" mà thay vào đó là "chính sách ngăn ngừa không cho Iran sở hữu bom nguyên tử" và nhiều viên chức khác trong chính phủ cũng đã nhấn mạnh quan điểm này rất nhiều lần. Giống hệt mọi hứa hẹn khác trong chính sách ngoại giao, hứa hẹn này cũng được tạc vào đá. Bác bỏ hứa hẹn này khi thời cơ đã đến là một việc đứng đắn đáng làm nhưng điều đó sẽ tiêu biểu cho một sự rút lui đầy xấu hổ.

Lý luận biện minh việc bác bỏ chiến lược răn đe là có lẽ Tehran vẫn quyết định sử dụng vũ khí hạt nhân cho dù họ phải đối đầu vối sự trả đũa mang tính hủy diệt. Nguy cơ chẳng bao giờ có thể giảm xuống mức số không, nhưng không có lý do gì để tin rằng Iran có thể tạo nên một mối đe dọa nguy hiểm hơn các chế độ ác ôn khác vốn đã phát triển được vũ khí hạt nhân. Ví dụ minh họa rõ ràng nhất là Bắc Hàn. Mặc dù quần chúng Hoa Kỳ vẫn chưa chú ý đến Bắc Hàn nhiều như thế, nhưng kỷ lục về những hành vi hiếu chiến cuồng tín và mang tính khủng bố của Bình Nhưỡng tồi tệ hơn Iran gấp bội.

Cự tuyệt không chấp nhận một ít nguy cơ nhỏ nhoi từ Iran có nghĩa là phớt lờ những mối nguy cơ khổng lồ của biện pháp thay thế là phải phát động chiến tranh. Chưa xét đến mối nguy hiểm vì bị đột kích bằng những hình thức trả thù không thể dự đoán trước của Iran — chẳng hạn như việc sử dụng vũ khí sinh học — những mối nguy cơ hiển nhiên bao gồm sự trả đũa bằng các phương tiện quân sự công khai cũng như ngấm ngầm mà Iraq sẽ nhắm vào tài sản của Hoa Kỳ. Những hậu quả xảy ra sau thắng lợi ban đầu trong đợt tấn công Iraq vào năm 2003 là một nhắc nhở rằng những cuộc chiến do Hoa Kỳ phát động không nhất thiết sẽ kết thúc vào thời điểm và bằng phương thức mà Hoa Kỳ mong muốn. Trên thực tế, tài liệu của Hoa Kỳ và Do Thái cho hay rằng cả hai nước này luôn luôn dự tính thấp mức tổn thất của các cuộc chiến mà họ tham gia. Hoa Thịnh Đốn trả giá thấp hơn mức dự tính trong cuộc Chiến Vùng Vịnh nhưng phải đối mặt với một hóa đơn cao hơn mức ước tính rất nhiều tại Triều Tiên, Việt Nam, Kosovo, Afghanistan, và cuộc chiến đánh Iraq lần thứ hai. Do Thái tổn thất ít hơn mức dự tính trong cuộc Chiến Sáu Ngày 1967 nhưng phải kinh ngạc thậm tệ với những tổn thất trong các cuộc chiến Yom Kippur năm 1973, Lebanon năm 1982, và chiến trận chống Hezbollah năm 2006.

Phát động chiến tranh chống Iran sẽ mang lại nhiều hiệu ứng lan tràn tiêu cực. Nếu không đồng thời tiến hành xâm lược và chiếm cứ lãnh thổ, một cuộc không kích đơn thuần không thể đảm bảo sự kết thúc của kế hoạch đeo đuổi vũ khí hạt nhân của Iran; nó chỉ có thể trì hoãn tiến trình đó và hầu như chắc chắn sẽ thúc đẩy người Iran cương quyết một cách cuồng nhiệt hơn để chế tạo cho bằng được một trái bom nguyên tử. Nếu năng lực của Iran chỉ tạm thời bị giáng cấp nhưng ý đồ của họ lại được khích động, mối đe dọa có thể trở nên tồi tệ hơn. Ngoài ra, việc phát động công kích trước sẽ làm rạn nứt khối liên minh quốc tế hiện thời đang ủng hộ biện pháp chế tài Iran, làm suy yếu lực lượng đối lập bên trong Iran, và sẽ bị toàn thể thế giới xem là một trường hợp gây hấn ngạo mạn khác của Hoa Kỳ đối với người Hồi Giáo.

Những tổn thất này dường như có thể biện minh được nếu phát động chiến tranh tấn công Iran có tác dụng khuyến dụ các quốc gia khác từ bỏ ý đồ tự chế tạo vũ khí hạt nhân để làm phương tiện răn đe. Nhưng phát động chiến tranh cũng có thể tạo sinh lực cho những nỗ lực đó. Cuộc chiến ngăn ngừa Iraq sở hữu vũ khí hạt nhân của Tổng Thống George W. Bush đã không khuyến can được Bắc Hàn — chỉ vài năm sau đó Bắc Hàn lại cứ tiếp tục tiến hành thử nghiệm vũ khí của họ và nó cũng không khiến cho Iran chọn lựa con đường khác. Có lẽ nó đã cổ vũ lãnh tụ Muammar al-Qaddafi từ bỏ chương trình hạt nhân, nhưng phần thưởng mà Hoa Thịnh Đốn dành cho y vài năm sau đó hóa ra chỉ là lật đổ và giết chết — đây tuyệt đối chẳng phải là bài học có tác dụng khích lệ dành cho các đối thủ của Hoa Kỳ về sự khôn ngoan của việc từ bỏ vũ khí hạt nhân.

Một lý do khiến giới lãnh đạo Hoa Kỳ không nguyện ý áp dụng răn đe là hình thái kích liệt nhất của chiến lược này — đe dọa trả đũa bằng cách hủy diệt toàn bộ nền kinh tế và dân số của kẻ địch — không còn được xem là hợp lý. Vào năm 1945, hầu như chẳng có người Hoa Kỳ nào phản đối việc thiêu đốt hàng trăm ngàn người dân Nhật Bản, và trong suốt thời kỳ Chiến Tranh Lạnh chẳng mấy ai phản đối nguyên tắc sát hại trên một quy mô lớn hơn thế nữa để trả đũa trong trường hợp bị Liên Xô tấn công. Nhưng thời buổi đã đổi thay: ngày nay, những quy phạm hậu-Chiến-Tranh-Lạnh và các nhà cố vấn pháp luật của Ngũ Giác Đài đã triệt để gạt bỏ ý tưởng cố tình tấn công vào các mục tiêu dân sự ra ngoài vòng giới hạn. Trong trường hợp Iran châm ngòi bom nguyên tử ở một nơi nào đó, Hoa Kỳ sẽ trả đũa bằng cách sát hại hàng triệu người dân Iran: đưa ra tuyên bố này là một điều khó khăn đối với chính phủ Hoa Kỳ.

Nhưng ức chế này không phải là lý do để chọn lựa việc phát động chiến tranh và nó cũng không tạo chướng ngại cho kế hoạch thực thi chiến lược răn đe. Một biến dạng có thể chấp nhận được là đừng đe dọa sát hại dân chúng Iran mà chỉ đe dọa hủy diệt chế độ cầm quyền của họ — bao gồm giới lãnh đạo, các cơ quan an ninh, và tài sản của chính phủ Iran — nếu Iran sử dụng vũ khí hạt nhân. Mặc dù trong thực tế một cuộc phản công mang tính phân biệt mục tiêu theo chiều hướng này cũng sẽ khó tránh khỏi việc gây ra nhiều tổn hại phụ, nhưng các nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ cũng vẫn có thể đưa ra một mối đe dọa đáng tin cậy và củng cố điều đó bằng cam kết sẽ đồng thời xâm lược lãnh thổ Iran — so với cuộc đổ bộ vào Iraq trong năm 2004, đây là một bước tiến chắc chắn sẽ được xem là hợp lý hơn nhiều trong trường hợp Iran tấn công bằng vũ khí hạt nhân. Và ngay cả khi những quan ngại mang tính pháp lý sẽ kiềm chế Hoa Kỳ trong việc ồ ạt tấn công các mục tiêu dân sự để trả đũa, các nhà lãnh đạo Do Thái chắc chắn sẽ nguyện ý làm điều đó nếu Iran tấn công Do Thái bằng vũ khí hạt nhân vì sự tồn vong của dân tộc họ bị đe dọa. Những mối đe dọa mang tính gia cố lẫn nhau này — rằng thành quả của cuộc Cách Mạng Iran và thậm chí chính cả bản thân xã hội Iran sẽ không còn tồn tại — sẽ là nguồn kiềm chế mang tính áp đảo đối với Tehran.

Nếu Iran có vũ khí hạt nhân thì đó là một viễn cảnh đáng quan ngại. Nhưng đối vối một số hiểm nguy, đơn giản là chẳng có một biện pháp nào có thể gọi là chắc chắn cả, và thử thách này đặt ra nhu cầu chọn lựa chiến lược giữa các mối nguy cơ khác nhau. Đơn giản là chẳng có bằng cớ nào trong thực tế có thể chứng minh rằng phát động chiến tranh với Iran sẽ mang lại nhiều an toàn hơn việc giải quyết vấn đề bằng chiến lược răn đe kỳ cựu ấy cả.

Những Tín Hiệu Hỗn Độn

Rủi ro dài hạn và nguy hiểm nhất do tình trạng bối rối của Hoa Thịnh Đốn đối với vấn đề răn đe bắt nguồn từ thái độ tránh né việc chọn lựa sử dụng hay bác bỏ chiến lược này khi phải đương đầu với Trung Quốc. Hoa Thịnh Đốn cần phải quyết định dứt khoát nên xem Bắc Kinh là một mối đe dọa cần phải kềm chế hay là một cường quốc đáng được bao dung. Bấy lâu nay, giới hoạch định chính sách của Hoa Kỳ vẫn cố giữ thái độ nước đôi. Về mặt chính trị, thái độ bất nhất này là một điều tự nhiên nhưng chỉ mang tính vô hại trong trường hợp chẳng có một xúc tác nào phơi bày tính mâu thuẫn của nó. Bởi vậy, lập trường này không thể duy trì dài lâu trừ phi Trung Quốc quyết định vĩnh viễn hành xử nhún nhường hơn bất cứ một cường quốc đang quật khởi nào trong lịch sử và trừ phi họ cảm thấy quyền thừa hưởng lợi ích của họ không bằng Hoa Kỳ.

Một quan điểm có tầm ảnh hưởng rộng cho rằng răn đe sẽ không thành vấn đề đối với mối quan hệ Mỹ-Trung vì tính hỗ tương ỷ tồn về mặt kinh tế giữa hai nước có khả năng bài trừ việc xung đột quân sự. Theo quan điểm này, đối chọi là lý luận nhảm nhí, bởi vậy chuẩn bị cho điều đó chỉ tạo nguy cơ biến nó thành một lời tiên tri do chính mình chủ động thực hiện. Quan điểm đối lập — rằng quyền lực đang lớn mạnh của Trung Quốc là một mối đe dọa cần phải đối phó bằng biện pháp quân sự — đang thắng thế nhưng chưa được chuyển hóa thành chính sách dứt khoát. Trong khi đó, những lời tuyên bố của chính phủ Obama về chiến lược "xoay trục" và "tái cân bằng" quyền lực quân sự của Hoa Kỳ sang châu Á vẫn chưa được giải trình bằng những tín hiệu có tính nhất quán về việc quân đội Hoa Kỳ sẽ được điều động tham gia tác chiến chống Trung Quốc ở nơi đâu, vào lúc nào, với lý do gì, và bằng cách nào. Cũng chẳng có lý do chiến thuật rõ ràng nào để biện minh cho việc điều động một đội thủy quân lục chiến đến đồn trú tại Úc, biểu tượng cụ thể nhất của chiến lược xoay trục. Vấn đề không phải là chiến lược răn đe đã bị bác bỏ hay tiếp nhận một cách không hợp lý mà là trạng thái rối ren vì nó.

Yếu tố làm gia tăng tình trạng thiếu minh xác này là việc Hoa Thịnh Đốn vẫn tiếp tục phớt lờ vấn đề xác định thời điểm mà lòng nhẫn nại lâu dài của Bắc Kinh về việc giải quyết địa vị của Đài Loan có thể chấm dứt và nó sẽ chấm dứt bằng cách nào. Trung Quốc lúc nào cũng biểu thị rõ ràng rằng tiến trình thống nhất đất nước chỉ là vấn đề thời gian chứ không phải là chuyện có thể xảy ra hay không. Hoa Thịnh Đốn đã trì hoãn vấn đề này trong nhiều năm nay bằng cách cảnh báo Đài Bắc chớ nên tuyên bố độc lập, một khiêu hấn mà Bắc Kinh đã khẳng định là sẽ dẫn phát hành động quân sự. Nhưng vào năm 2001, khi được hỏi về việc Hoa Kỳ sẽ làm gì để bảo vệ Đài Loan, ông Bush tuyên bố rằng: "Bằng bất cứ điều gì cần thiết." Trên thực tế, chính sách của Hoa Kỳ đã diễn biến thành một lời hứa bảo vệ Đài Loan trong địa vị một tỉnh phiến loạn của Trung Quốc và sẽ chấm dứt sự bảo về đó nếu Đài Loan trở thành một quốc gia riêng biệt. Đối với một số chuyên gia, lập trường này được xem là một giải pháp khôn ngoan — nhưng nó miệt thị nhận thức của đại đa số quần chúng Hoa Kỳ, gởi đến Bắc Kinh một tín hiệu hàm hồ, và bởi vậy có tác dụng hủy hoại khả năng của Hoa Kỳ trong việc chuẩn bị sẵn sàng để đối phó với khủng hoảng.

Trong khi đó nhiều nguồn xung đột đang được nung nấu, chẳng hạn như sự phục sinh của những căng thẳng trong vấn đề tranh chấp các hải đảo tại Biển Đông. Vì phải bận tâm với những thách thức chiến lược khác nên Hoa Thịnh Đốn đang trôi dạt về hướng đối kháng bất ngờ, không có một quyết định rõ ràng nào về những tình huống mà Hoa Kỳ sẵn sàng khai chiến với Trung Quốc. Tình trạng phân tâm và do dự này ngăn cản việc gởi đến Bắc Kinh những cảnh báo rõ ràng về các "ranh giới đỏ" của Hoa Kỳ, làm gia tăng nguy cơ của một cuộc khủng hoảng không được dự liệu trước, việc tính toán sai lầm, và tình trạng leo thang căng thẳng.

Những cuộc thao diễn của hải quân Phi Luật Tân và Trung Quốc gần các hải đảo tranh chấp vào giữa năm 2012 là một hồi chuông cảnh tỉnh, và các thủ đoạn do Nhật Bản và Trung Quốc thi thố ngay sau đó — trong mối bất hòa thậm chí càng nguy hiểm hơn là việc tranh giành chủ quyền trên quần đảo Điếu Ngư Đài/Senkaku — đã khiến tình trạng bối rối của Hoa Thịnh Đốn nổi ra lồ lộ. Phản ứng ban đầu của Hoa Kỳ đối với cuộc tranh chấp này là một thái độ mâu thuẫn gây quan ngại: "Hoa Kỳ không đứng về phía nào trong vấn đề tranh chấp chủ quyền nhưng chúng tôi khẳng định rằng những hải đảo này nằm trong khuôn khổ của hiệp ước," một phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tuyên bố nhằm ám chỉ đến hiệp ước hỗ tương bảo vệ an ninh giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ. Kế đến Bộ Trưởng Quốc Phòng Leon Panetta lại nói rằng Hoa Kỳ sẽ không ủng hộ bên nào trong những vụ tranh chấp lãnh thổ trong khu vực và cũng tuyên bố rằng tuy chiến lược tái cân bằng tại châu Á không phải chỉ là ngôn từ khoa trương rỗng tuếch, nó không phải là một mối đe dọa đối với Trung Quốc.

Tất cả những điều này chung quy chỉ là một mớ tu từ nhảy nhót vòng vo chứ không phải là việc hoạch định chiến lược. Đây là một ngón nghề nguy hiểm, vừa triển hiện thái độ khiêu hấn vừa bày tỏ tính yếu nhược trong cùng một lúc. Hoa Thịnh Đốn đưa ra tín hiệu khuyến cáo Bắc Kinh chớ nên chiếm cứ những hải đảo này nhưng không đe dọa sẽ ngăn cản Trung Quốc thực hiện điều đó, ngay cả trong khi họ cam đoan với Đông Kinh rằng Hoa Kỳ có nghĩa vụ bảo vệ những hải đảo này theo quy định của hiệp ước. Những lời lẽ thanh minh hoặc những phát biểu bí mật mà Hoa Kỳ gởi đến Bắc Kinh và Đông Kinh ngay sau đó có thể giảm bớt mức độ mâu thuẫn, nhưng lập trường công khai của Hoa Kỳ có tác dụng đả phá tính khả tín của Hoa Thịnh Đốn. Nó mời mọc giới lãnh đạo của Trung Quốc nhìn nhận rằng Hoa Kỳ chỉ là một con cọp giấy có lẽ sẽ cuốn gói trong trường hợp khủng hoảng leo thang. Tuy nhiên, khi một cuộc khủng hoảng như thế thực sự xảy ra, dưới sức ép của những biến cố mà Hoa Kỳ không hề chuẩn bị trước, Hoa Thịnh Đốn có thể khiến cho đối thủ của mình kinh ngạc bất ngờ bằng cách chọn lựa phát động chiến tranh, cũng vì chính những lý do mà họ đã tiến hành điều đó sau khi Nam Hàn bị xâm lược vào năm 1950 và Kuwait vào năm 1990.

Có hai biện pháp hợp lý và hữu hiệu dài lâu để thay thế cho tình trạng rối ren nguy hiểm này. Biện pháp thứ nhất là đưa ra một cam kết dứt khoát về việc kiềm chế Trung Quốc và điều này có nghĩa là Hoa Thịnh Đốn sẽ ngăn chặn không cho Trung Quốc bành trướng lãnh thổ hoặc bằng hành động quân sự hoặc bằng sức chèn ép chính trị. Biện pháp này nghe có vẻ khinh suất vì Trung Quốc xem kiềm chế là một mmối đe dọa mang tính gây hấn. Bởi thế, Hoa Thịnh Đốn cần phải bày tỏ cam kết này một cách thận trọng bằng cách nhấn mạnh rằng duy trì hiện trạng có mục đích phòng ngự chứ không phải thách thức quyền lợi của Trung Quốc. Cái lợi của biện pháp này là khiến đối thủ khó nhầm lẫn hơn về ý định răn đe của Hoa Kỳ và nhờ vậy sẽ khiến chiến lược này càng có tác dụng hơn — tạo điều kiện cho việc vạch ra những "ranh giới đỏ" rõ ràng hơn để giảm thiểu khả năng có thể xảy ra của trò chơi "gà con" dẫn đến một cuộc chiến tranh mà chẳng bên nào mong muốn. Nhưng cái hại là Hoa Kỳ phải trả giá rất cao: một cuộc Chiến Tranh Lạnh mới và việc phá vỡ tiến trình hợp tác hữu ích trên nhiều phương diện. Hoa Kỳ còn phải quyết định một cách dứt khoát là họ có muốn tiến hành chiến tranh với Trung Quốc để bảo vệ Đài Loan hay không. Hiện thời, vẫn chưa có một cuộc thảo luận nghiêm túc nào về vấn đề này, đừng nói chi chuyện nhất trí, trong giới cử tri của Hoa Kỳ cũng như trong giới tinh anh trong lãnh vực chính sách đối ngoại tại Hoa Thịnh Đốn.

Nếu chiến lược kiềm chế "đèn đỏ" không cần thiết hoặc quá tốn kém, thì biện pháp ngược lại là thỏa hiệp — trên thực tế, biện pháp thứ hai này có nghĩa là "bật đèn xanh." Thỏa hiệp là một biện pháp thích nghi (1) nếu tham vọng của Trung Quốc có giới hạn và có khả năng sẽ nằm trong vòng giới hạn, (2) nếu năng lực tăng trưởng của Trung Quốc không bị trật đường rầy, và (3) nếu Hoa Kỳ chọn lựa bỏ rơi lợi ích của đồng minh để tránh gia tăng xung đột với một cương quốc đang trỗi dậy — tất cả đều là những cái nếu rất lớn. Thỏa hiệp với Bắc Kinh có nghĩa là Hoa Thịnh Đốn phải thừa nhận rằng khi Trung Quốc trở thành một siêu cường quốc tự nhiên là họ sẽ có cảm thức được thừa hưởng các đặc quyền của một siêu cường quốc — điều hiển nhiên hơn cả là tầm ảnh hưởng bất tương xứng tại khu vực. Và Hoa Kỳ sẽ phải chấp nhận rằng các vụ tranh chấp trong các vấn đề không quan trọng sẽ được giải quyết theo ý muốn của Trung Quốc chứ không phải theo ý muốn của các nước láng giềng yếu thế. Chướng ngại lớn lao nhất đối với biện pháp này là xung đột vì vấn đề Đài Loan, một tranh chấp nghiêm trọng hơn nhiều so với các vụ tranh chấp về địa vị của những bãi đá không người cư trú đã kích động căng thẳng vào hồi năm ngoái. Và cũng giống hệt tình trạng thiếu nhất trí về chiến lược kiềm chế, người Hoa Kỳ ghét cay ghét đắng bất cứ chuyện gì sặc mùi nhân nhượng.

Vì cả hai biện pháp này đều thiếu sức hấp dẫn nên việc Hoa Kỳ đã dùng mánh khóe để xử lý vấn đề này là điều chẳng có gì đáng kinh ngạc. Thỏa hiệp không có tính nhất quán là một chiến lược ngoại giao thông dụng và có khi cũng hợp lý. Tuy nhiên, tại châu Á, điều này có nghĩa là đánh giá quá thấp những mối nguy cơ do thái độ thụ động và do dự mang lại trong trường hợp quyền lực của Trung Quốc gia tăng nhưng cơ chế kiềm chế họ lại giảm sút. Chính sách hiện hành của Hoa Kỳ tốt lắm cũng chỉ đạt mức đèn vàng, một cảnh báo để yêu cầu họ chạy chậm lại, nhưng thiếu thốn một đòi hỏi cứng rắn buộc họ phải dừng lại. Hơn thế nữa, đèn vàng có khi lại là dấu hiệu xúi giục tài xế gia tăng tốc độ.

Trong việc đối phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc, không có một biện pháp nào không tạo nên đau đớn — ngoại trừ trường hợp Đài Loan tự nguyện đầu hàng. Trì hoãn là biện pháp có thể sử dụng lâu dài, nhưng chỉ với điều kiện là trong khi Trung Quốc vẫn còn nhân nhượng. Nếu khủng hoảng bùng nổ, biện pháp này tỏ ra quá yếu nhược không thể khiến Bắc Kinh quẹo tay lái trước, nhưng cũng đủ mạnh để ngăn ngừa Hoa Thịnh Đốn ngoặt hướng xe, và như vậy sẽ dẫn đến một trận đụng đầu. Giải pháp duy nhất là đưa ra một quyết định chiến lược minh bạch về vấn đề Hoa Kỳ có chấp nhận tất cả mọi yêu sách mà Trung Quốc có thể đòi hỏi trong địa vị của một siêu cường quốc, một khi họ thực sự đạt được địa vị đó, hoặc vạch ra những giới tuyến đỏ trước khi khủng hoảng bùng nổ.

Chiến lược răn đe đã không gây ra tai họa khi được áp dụng nhẹ nhàng, dẫu chẳng cần thiết, để đối phó với Nga, nhưng nó có nhiều hiệu ứng tiêu cực. Răn đe không phải là chiến lược chắc thắng trong việc đối phó với Iran, nhưng nó tốt hơn việc phát động chiến tranh, đặc biệt là một cuộc chiến tranh có thể khiến mối đe dọa tối hậu trở nên tệ hại hơn. Và đối mặt với tình thế tiến thối lưỡng nan trong việc hoạch định chính sách do Trung Quốc gây nên, quyết định sử dụng hay bác bỏ răn đe là một chọn lựa khó khăn phi thường, nhưng tránh né việc chọn lựa sẽ khiến cho tình thế tiến thối lưỡng nan này càng trở nên nguy hiểm hơn. Giảm thiểu nguy cơ cho tương lai đòi hỏi phải trả giá ngay bây giờ.

Đưa răn đe trở về trung tâm điểm sẽ góp phần cải thiện những vấn nạn chiến lược này. Trong thời Chiến Tranh Lạnh, chiến lược này phổ biến và thâm căn cố đế đến nỗi "răn đe" đã trở thành một khẩu hiệu được dùng để biện minh cho mọi hoạt động trong chính sách quốc phòng. Tuy nhiên trong những năm gần đây thuật ngữ này hầu như đã biến mất trong kho từ vựng về vấn đề tranh luận chiến lược. Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ cần ôn lại những điều căn bản của lý luận răn đe để tái khám phá tiềm năng chiến lược của nó trong những tình huống thích nghi và nhìn nhận giới hạn của nó trong những tình huống khác. Biện pháp thay thế, tức là cứ tiếp tục duy trì trạng thái hỗn độn này, sẽ chẳng làm nên trò trống gì cho đến khi nó có thể phát huy tác dụng — chẳng hạn, vào bất cứ thời điểm nào mà Bắc Kinh quyết định đã đến lúc cần phải thực thi việc sửa đổi mà từ trước đến giờ họ vẫn khăng khăng cho rằng chỉ là vấn đề thời gian.

Tác giả: Richard K. Betts
Dịch giả: Nam Hải Trường Sơn
Nguồn: Foreign Affairs, Mar/Apr 2013

0 comments:

Đăng nhận xét

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
Bóp Vú, Bóp Trán
Từ cổ chí kim, đừng nói chi bọn phàm phu tục tử, nhiều người trong giới anh hùng (và gian hùng) cũng khó vượt qua cửa ải "mỹ nhũ quan." Nếu không được xử lý thích đáng, tật mê vú có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng, chẳng hạn như khuynh quốc khuynh thành, thân bại danh liệt, hoặc làm trò cười cho vạn đời sau. Thời Xuân Thu, Phù Sai để mất nước Ngô chỉ vì đam mê cặp gò chim sa cá lặn của Tây Thi. 2.500 năm sau, Bill Clinton sém bị cách chức tổng thống vì cứ ưa đùa giỡn trên ngọn núi đôi của Monica Lewinsky. Gần đây, cựu thủ tướng Ý Silvio Berlusconi bị tuyên án 7 năm tù vì kiềm chế chẳng nổi khoái cảm mơn trớn bồng đảo của gái điếm...



Từ Chức: Thủ Đoạn Hay Đạo Đức Chính Trị
Trên không gian blog có nhiều người bàn tán xôn xao về cú "coup de pub" này của Dương Trung Quốc, nhưng phần lớn đều dựa vào giả định cho rằng, về mặt lý thuyết, món hàng mà ông nghị rao bán có thể so sánh hoặc đồng đẳng với cái gọi là "văn hóa từ chức" tại các nước dân chủ. Điều mà họ chỉ trích rất gắt gao là tính khả thi hoặc mục đích ứng dụng của nó dưới chế độ độc tài Đảng trị tại Việt Nam. Nhưng cả về mặt khái niệm, cái mà Dương Trung Quốc đề nghị, ngoài tên gọi ra, nội dung chứa đựng một mớ tư duy hàm hồ và tương phản với tinh thần của một nền văn hóa từ chức chân chính.



Ấm Chê Nồi... Đen Thui
Tuy nhiên, việc đối phó với Dương Trung Quốc không dễ dàng như việc đối phó với những kẻ không có thế lực trong đảng hoặc nhà nước nhưng dám "chọc giận" thủ tướng (như Cù Huy Hà Vũ), vì hiện tại mặc dù không phải là đảng viên nhưng Dương Trung Quốc đã trở thành bộ hạ của Tư Sang (kể từ khi đơn đầu kháo của y bị văn phòng thủ tướng bác bỏ vì lý do "tráo trở, không đáng tin cậy"). Đánh chó phải ngó mặt chủ nhân. Hành hung hoặc tống tù là những biện pháp tạm thời bất khả thi. Nhưng nếu đám công (an côn) đồ đàn em được dịp cất dùi cui và còng tay để nghỉ xả hơi thì nhóm thư đồng lại nhận được lệnh thi hành kế hoạch ám sát... nhân cách.



Ai Là Kẻ Chủ Mưu Bán Nước Tại Thành Đô
Tại “thằng” Gorbachốp! Đó là tuyên bố hùng hồn và lời giải thích chính thức đến tận hôm nay 2014 của đảng CSVN, lý giải nguyên nhân phải có Hội nghị Thành Đô của họ năm 1990 trong các hội nghị đảng, chính quyền, đoàn thể từ trung ương đến cơ sở và đến các chi bộ phường xóm, vỉa hè… Câu nói đó thể hiện văn hóa đặc thù của đảng CSVN – hôm qua đảng coi ông là vị Cứu tinh, là Giấc mơ, là Thiên đường mơ ước cho đảng theo, hôm nay ông là tội đồ bắt đảng phải theo mẹ đĩ già TQ!Câu nói đó thể hiện tâm thế hèn kém muôn đời của đảng CSVN, không bao giờ dám đối diện vấn đề và sự thật, chỉ luôn chỉ tay đổ lỗi cho người khác...


Thuở tàn xuân ngày hai buổi đến phường
Yêu quê hương qua tập tem phiếu nhỏ
“Ai bảo bao cấp là khổ?”
Tôi mơ màng hôn tô sắn độn khoai
Những ngày lén đọc
Sách báo "ngụy" vàng phai
Chúng bắt được
Tra tấn tơi bời, vỡ óc!
Có cô bé chuồng bên
Nhìn tôi thầm thổn thức...

"Cải tạo" bùng lên
Rồi "học tập" trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Chúng chụp mũ, lôi đi
Cô bé chuồng bên (chẳng ngờ nghi)
Cũng bị ép bức
Hôm gặp tôi vẫn thầm thổn thức
Mắt sưng bầm (thương... thương... quá đi thôi!)
Giữa cuộc chuyển giao không nói được một lời
Xe tải đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại
Nắng rợp trời nhưng lòng tôi rét mãi...

Cuối cùng tôi trở về đây
Với phố phường xưa, khủng bố, đọa đày
Lại gặp em
Gầy gò chống cây nạng gỗ
Vẫn thầm thổn thức khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện tự do... (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi giá lạnh...

Hôm nay đến nhận tử thi em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc giết em rồi la: "Tự sát."
Chỉ vì em là ký giả, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết cả con người...

Xưa yêu quê hương vì có khoai, có sắn
Có những ngày lén đọc bị còng, tra
Nay yêu quê hương vì sau từng chấn song sắt
Có oan hồn tức tưởi của em tôi!

Nam Hải Trường Sơn
Cuối Tháng 4 Đen, 2014
Nhại-họa thơ Giang Nam, để truy điệu ngày quê hương tàn tạ lần thứ 39

 

Copyright © 2010, 2011, 2012, 2013 Nam Hải Trường Sơn